Chương 193 — Đàn tràng chắn luồng gió độc
Khói đen cuộn trên taluy âm sau trạm Mẫu Sơn. Rơm mục quyện cành thông cháy dầu cặn bốc khét lẹt như đám cháy bồn diesel. Gió bấc thổi bạt vệt khói qua chòi gác số hai tràn xuống thung lũng Bản Khoai.
Trong buồng dã chiến, Đạt ghì máy cơ yếu:
“Mũi một đã ém sát kho Đồng Đăng. Mũi hai biên phòng men suối áp sát bãi gỗ. Cháy giả kích hoạt đúng kế hoạch.”
Đầu dây truyền lại lệnh: tiếp tục nghi binh chờ khép trọn gọng kìm.
Còi báo động trên máy Agilent của Linh rú chói tai. Đồ thị dải Ku mười hai đến mười bốn gigahertz dựng đứng thành bức tường gai, mức công suất quét vọt từ âm sáu mươi lên dương mười lăm đề-xi-ben milioat.
“Xe dưới lũng dính câu rồi!” Linh dán mắt vào màn hình. “Thấy khói, chúng tưởng máy phát đã cháy nên bung hết công suất cao tần đè bẹp luồng viba vệ tinh.”
“Bao nhiêu oát chị?” Phạm Đức Tài hỏi dồn.
“Không dưới hai ngàn oát qua ăng-ten còi,” Linh đáp. “Cường độ này quét vào chảo sẽ bão hòa tầng trộn tần củ thu LNB. Phơi nhiễm quá mười lăm phút trong sương muối, bóng bán dẫn sẽ thủng. Lỗi bit Chronos-12 mini vọt từ mười mũ âm chín lên mười mũ âm ba. Mạch đồng bộ nano-giây sắp đứt!”
Bác Ba Nghĩa đứng tựa bàn gỗ, vạch tay trong không khí:
“Gió thung lũng thốc lên mỏm Hùng Vương rồi mới tạt qua mặt chảo. Xe dưới kia góc ngẩng mười bảy độ bắn lên đỉnh tháp. Muốn che chảo, phải dựng bình phong chắn ngay mỏm đá ngoài vực.”
Trần Khải nhìn mỏm đá vôi xám án ngữ giữa trời mây, cách chảo sóng hai mươi mét, nằm trọn trên trục ngắm từ bãi gỗ lên đài thu.
“Biên phòng trèo rừng mất bốn mươi lăm phút mới khóa được xe,” Khải đanh giọng. “Không chắn luồng sóng rác, chảo Ku sẽ cháy, sàn ngoại hối dưới đồng bằng sẽ sụp đổ. Đạt, khiêng hòm đồ cúng với cọc bọc đồng lên mỏm đá ngay.”
Đạt ngơ ngác:
“Anh Khải… gió mỏm đá giật cấp tám, nhang đèn nào cháy nổi!”
“Ai bảo tôi cúng chay?” Khải vỗ lên hòm gỗ sơn son. “Tôi cúng giải hạn tam tai, cúng nghênh phong trấn sát, để mắt tầm nhiệt vệ tinh Aurora và kính viễn vọng thấy Thầy Khải đang quẫn trí cầu trời. Có thế chúng mới yên dạ giữ nguyên công suất, không tháo chạy.”
Khải mở nắp hòm, lộ tám cọc gỗ nghiến bọc ống đồng đỏ dày một ly rưỡi, đầu cọc gắn ren đồng, cùng bốn cuộn lưới xám bạc cuộn tròn như chiếu cói.
Linh nhận ra ngay:
“Lưới đồng mạ bạc mắt cáo không phẩy tám milimét buồng đo EMC bác Bảy Phế gom ở bãi An Lạc?”
“Chính nó,” bác Ba Nghĩa cười khà. “Tao với Tài luồn sẵn dây đồng bện bảy tao dọc mép, ngoài bọc vải the in hình bát quái chống sương muối. Gặp bước sóng hai phân rưỡi dải Ku thì đây là bức tường thép!”
Năm người ngược gió ra mỏm Hùng Vương. Gió rít như còi hụ, lớp băng mỏng trơn như mỡ thử thách từng bước ủng đinh.
“Cắm cọc theo sơ đồ Khảm - Ly - Chấn - Đoài!” Khải hét lớn. “Cọc đồng đóng sâu sáu tấc vào kẽ đá, nêm chốt thép bắt chặt mạch đá vôi ngậm nước!”
Trung úy Dũng cùng Tài quỳ trên đá lạnh. Người giữ cọc, người vung búa tạ năm cân giáng chan chát. Bác Ba Nghĩa quấn dây đồng trần bện mười sáu tao quanh chân cọc, bấm đầu cosse rồi siết bu-lông:
“Đá vôi nhiều nước ngầm, điện trở đất chưa tới bốn ôm! Bốn cọc này thành mạng tiếp địa dã chiến, xung đánh vô bao nhiêu xả sạch xuống núi bấy nhiêu!”
Khải cắm cờ vải the dọc tuyến cọc, cự ly giữa các cọc tính chuẩn theo một phần tư bước sóng dải Ku.
“Kéo lưới!” Khải ra lệnh.
Tài và Dũng ghì cuộn kim loại. Gió thốc suýt hất tung Tài, bác Ba Nghĩa kịp tóm đai an toàn ghìm xuống. Tăng đơ thép móc vào tai cọc, tấm lưới dài năm mét, cao hai mét rưỡi kéo căng, nghiêng bốn mươi lăm độ chếch lên trời mù.
“Gương phản xạ góc!” Khải nói qua bộ đàm. “Dùng mặt kim loại hắt búp sóng cao tần lên trời! Mắt lưới nhỏ hơn bước sóng, luồng xung gặp nó như gặp gương phẳng!”
Tiếng Linh vang lên:
“Tấm một vào vị trí, nhiễu giảm mười hai đề-xi-ben! Kéo tiếp tấm hai khóa nốt búp phụ mép trái!”
Tấm thứ hai kéo bung, kẹp đè lên tấm đầu bằng kẹp đồng chữ U, tạo thành mặt cong chắn sóng hơn hai mươi mét vuông án ngữ đỉnh vực.
Khải đứng trên mỏm đá cao nhất, áo the no gió. Anh rút kiếm gỗ bọc đồng, tay kia gõ chuông ba tiếng coong đanh gọn:
“Càn khôn định vị, phong lôi tương bạc! Sơn trạch thông khí, dẫn sát quy nguyên!”
Khải vung kiếm chỉ hướng nào, Tài và bác Ba Nghĩa siết tăng đơ cọc đó, uốn cong mép lưới triệt tiêu búp sóng dội biên. Nhìn qua ống ngắm từ xa, đối phương chỉ thấy một ông thầy cúng đang quẫn trí múa cờ giải hạn.
Chiếc kẹp cuối cắn chặt thanh cái tiếp đất thì bộ đàm vang tiếng reo của Linh:
“Nhiễu tụt bốn mươi mốt đề-xi-ben! Búp sóng chính của xe đã bị hắt lên trời! Lỗi bit rơi về mười mũ âm tám! Chronos-12 mini khóa lại nhịp PTP, độ trễ chỉ còn không phẩy tám nano-giây!”
Dũng buông búa tạ, thở phào khói trắng:
“Một đàn cúng bằng vải the với mấy tấm lưới mà bẻ gãy cả cỗ máy tiền tỷ của chúng nó!”
“Đàn cúng chạy bằng cơm, bằng mồ hôi với dây đồng trần của thợ đó chú em,” bác Ba Nghĩa cười vang. “Vật lý thực chiến không có phép màu, chỉ có chuẩn hay không thôi!”
Bị dội ngược công suất, chiếc xe thùng ngụy trang dưới vực điên cuồng kích hoạt tầng khuếch đại đèn sóng chạy TWT.
Một tiếng rít chói tai xé toạc màn sương tựa như thanh thép nung đỏ cắm phập vào thùng nước đá. Không gian quanh mỏm Hùng Vương rung chuyển bởi áp lực vô hình cực lớn. Mặt chắn kim loại uốn cong rên rỉ dưới bức xạ điện từ khổng lồ.
Xoẹt! Xoẹt! Xòe!
Dọc bốn sợi dây đồng tiếp địa cắm vào khe nứt đá vôi, chuỗi tia lửa hồ quang điện xanh biếc bùng lên dữ dội. Muối ẩm trong sương bốc cháy lách tách thành chùm hoa lửa, rọi sáng bừng mỏm đá trơ trọi giữa đêm mù. Dây đồng trần nóng rực, mùi ozone bốc lên ngột ngạt làm tóc gáy Tài và Dũng dựng đứng vì tĩnh điện cảm ứng.
“Công suất quét đã vượt sáu ngàn oát!” Giọng Linh thét lên qua bộ đàm giữa tiếng xẹt điện rền rĩ. “Dòng cảm ứng tiếp địa vượt ba mươi am-pe! Hệ thống gương đang gánh toàn bộ đòn đánh liều mạng của kẻ thù!”
Khải nắm chặt thanh kiếm gỗ bọc đồng, đứng sừng sững trước bức tường lưới đang gầm rít rợn người, mắt nhìn trừng trừng xuống đáy thung lũng đen ngòm đang sục sôi giận dữ. Cơn bão điện từ đã thực sự giáng xuống đỉnh trời Mẫu Sơn.