Mã Nguồn Ngược Dòng Chương 151 / 209

Chương 151 — Mùi dầu trong kho Nam Hải

Kho của Nam Hải Cargo nằm ở rìa một con hẻm xe tải trên Quốc lộ 1A, đoạn gần ngã tư An Sương.

Không gian ở đây không có cái yên tĩnh hay sự ngăn nắp nhân tạo của kho Bình Thạnh. Ngay từ cửa ngõ, mùi dầu máy diesel khét lẹt trộn lẫn với mùi gỗ pallet ẩm mục dưới nắng chiều tạo thành một thứ không khí đặc, nóng và nặng. Tiếng động cơ của chiếc xe nâng Toyota đời cũ chạy bằng dầu rít lên từng hồi, kèm theo tiếng xích sắt loảng xoảng mỗi lần hạ càng xuống sàn bê tông loang lổ vết dầu đen.

Bà Hạnh Nam đứng ở góc hiên kho, chiếc nón lá vắt sau lưng, tay cầm xấp phiếu giao nhận đã quăn góc. Gió từ quốc lộ thổi vào mang theo bụi đường xám xịt bám một lớp mỏng lên những chiếc xe tải lạnh năm tấn đang đỗ hàng dài chờ bốc xếp.

“Đi một vòng đi,” bà Hạnh Nam nói, giọng khàn đặc trưng của người Hải Phòng đã sống mười lăm năm trong Nam. “Muốn học quy trình có giấy phép thì phải nhìn cái chỗ người ta làm ra tiền và ra lỗi trước.”

Hoàng đi bên cạnh Phương Anh, phía sau là Khoa, Trâm và Minh. Minh đeo chiếc balo đựng laptop nhưng từ lúc bước vào kho, anh chưa mở máy một lần nào. Mặt sàn gồ ghề và bụi bặm khiến việc bước đi cũng phải cẩn thận để tránh những cây đinh rỉ nhô ra từ các tấm pallet vỡ.

“Hệ thống kho của tôi có đủ chứng nhận an toàn phòng cháy và tiêu chuẩn vận tải nội địa,” bà Hạnh Nam vừa đi vừa chỉ vào những bình chữa cháy bằng bột màu đỏ treo dọc cột thép. “Nhưng tiêu chuẩn trên giấy là một chuyện, còn mấy ông tài xế với bốc xếp vận hành lại là chuyện khác. Ở đây, một ngày chạy ba mươi chuyến gom hàng về sân bay, chậm một phút là rớt slot bay của khách.”

Họ dừng lại trước một chiếc xe tải năm tấn đang lùi vào bệ nhận hàng. Một người đàn ông trung niên, cánh tay xăm trổ mờ đi vì bụi than, nhảy từ cabin xuống. Ông ta mặc chiếc áo thun ba lỗ ngả màu cháo lòng, chân xỏ dép lê, miệng ngậm điếu thuốc lá chưa châm.

“Anh Sáu,” bà Hạnh Nam gọi. “Nay chạy chuyến bốn giờ đúng không?”

“Đúng rồi chị Nam,” người tên Sáu trả lời, giọng khàn khàn. “Bên kho Tân Bình giao hàng trễ mười lăm phút. Tôi phải đạp bù ga trên đường Cộng Hòa mới kịp giờ về đây.”

“Nhiệt độ thùng lạnh lúc nhận hàng bao nhiêu?” Phương Anh hỏi, rút từ trong túi ra cuốn sổ tay nhỏ.

Tài xế Sáu nhìn Phương Anh một lượt, từ chiếc áo sơ mi trắng ủi phẳng đến đôi giày tây sạch sẽ của cô, rồi quay sang bà Hạnh Nam:

“Ai đây chị?”

“Người của đối tác Cổng Việt. Cứ trả lời đi,” bà Hạnh Nam xua tay.

Sáu tặc lưỡi, vỗ vào thành thùng xe lạnh: “Nhiệt độ thì lúc nào chả âm năm đến âm tám độ. Tôi nhìn cái kim đồng hồ trên cabin thấy ổn là chạy thôi chứ có dừng lại đo từng thùng đâu.”

“Anh không ghi vào nhật ký hành trình à?” Phương Anh hỏi tiếp.

Sáu cười hờ hốc, rút điếu thuốc ra khỏi miệng: “Cô hỏi lạ. Giờ đó kẹt xe cứng ngắc ở cầu vượt Lăng Cha Cả, tôi một tay vô số, một tay giữ vô lăng, lấy đâu ra tay thứ ba mà cầm bút ký nhật ký? Về tới kho này, tắt máy xe rồi ghi một thể. Có lệch đi đâu được.”

Hoàng nhìn sang chiếc đồng hồ cơ nhiệt độ gắn bên hông thùng xe. Mặt kính bám đầy bụi dầu xám, chiếc kim chỉ mức âm sáu độ nhưng phần kim loại xung quanh đã rỉ sét. Anh hiểu, nếu có sự cố rò rỉ nhiệt giữa đường, tài xế sẽ không biết được cho đến khi mở cửa thùng tại sân bay.

Bà Hạnh Nam dẫn cả nhóm vào khu vực kiểm đếm và niêm phong. Quy trình ở đây nhanh đến mức chóng mặt. Hai người bốc xếp nhanh tay chuyển những thùng xốp đựng thủy sản đông lạnh từ pallet lên băng chuyền. Một nhân viên kho khác cầm con dấu, đóng cộp cộp vào tập phiếu gửi hàng mà không nhìn kỹ nhãn mác.

“Biên bản bàn giao đâu chị?” Khoa hỏi, chỉ vào đống thùng vừa được đưa lên xe. “Em không thấy ai kiểm tra số niêm phong (seal) trước khi đóng cửa thùng.”

“Ôi dào,” nhân viên kho vừa đóng dấu vừa trả lời không ngước đầu lên. “Xe của nhà mình chạy thẳng ra sân bay Tân Sơn Nhất chứ có đi đâu đâu mà mất seal. Cứ khóa xích, bấm cái khóa số là đi thôi. Ra ngoài kia giao cho đại lý gom hàng thì họ tự cắt seal kiểm lại.”

“Nhưng nếu trên đường đi có mất mát hoặc thay đổi hàng hóa, làm sao phân định trách nhiệm giữa lái xe và thủ kho?” Phương Anh chỉ ra điểm mấu chốt. “Trong bản MOU ba bên, chúng ta quy định ranh giới trách nhiệm phải được xác nhận bằng số seal tại thời điểm bánh xe lăn bánh.”

Bà Hạnh Nam dừng lại, quay người đối diện với Phương Anh và Hoàng. Chiếc xe nâng phía sau rú lên một tiếng rồi hạ một chồng pallet xuống sàn sát bên cạnh họ, tạo ra một chấn động nhẹ dưới chân.

“Cô Phương Anh nói đúng luật,” bà Hạnh Nam thở dài, rút một tờ khăn giấy trong túi ra lau mồ hôi trên trán. “Nhưng doanh nghiệp nhỏ như tôi sống được mười lăm năm nay là nhờ cái gì? Nhờ sự linh hoạt. Khách gọi báo hàng ra trễ năm phút, tài xế sẵn sàng chờ rồi chạy bù. Giấy tờ hải quan thiếu một chữ ký, tôi gọi điện cho người quen ngoài cửa khẩu bảo lãnh để xe đi trước, giấy bổ sung sau. Làm kiểu các cậu, mỗi bước dừng lại kiểm seal, ghi nhiệt độ, đối soát chữ ký… thì một ngày Nam Hải không chạy nổi mười chuyến.”

“Nhưng bớt linh hoạt thì mới có giấy phép vận tải quốc tế thật sự, chị Nam ạ,” Hoàng lên tiếng. Giọng anh không lớn, nhưng đứng giữa tiếng động cơ ồn ào của kho, nó có sự chắc chắn của người đã nhìn thấy đống hồ sơ bị Dũng trả lại sáng nay. “Quy trình của chị chạy nội địa bằng niềm tin và quan hệ lâu năm thì được. Nhưng khi hàng lên khoang cargo quốc tế, không có ai ngoài sân bay nhận bảo lãnh bằng điện thoại cho chị đâu.”

Tài xế Sáu từ cabin bước xuống, tay cầm một tập hồ sơ mỏng kẹp trong tấm bìa nhựa xanh. Ông ta nghe thấy câu nói của Hoàng, mặt đỏ lên vì nóng và mệt:

“Cậu em này nói nghe dễ quá. Giấy tờ không chở hàng giùm mấy cậu đâu. Một chuyến hàng từ đây ra sân bay, tôi phải canh từng chốt giao thông, né từng đoạn cấm giờ, lại còn phải canh giờ máy bay cất cánh. Giờ bắt tôi dừng lại ký ba cái biên bản với đối soát mã thùng, trễ chuyến bay thì ai đền tiền dầu, ai đền tiền phạt cho khách?”

Không khí giữa khu vực bốc xếp chợt nóng lên. Mấy người bốc xếp cũng dừng tay, nhìn về phía nhóm thanh niên mặc đồ văn phòng đứng giữa kho.

Trâm đứng bên cạnh Khoa, tay cầm cuốn sổ ghi chép, chăm chú nhìn từng nét mặt của tài xế Sáu và nhân viên kho. Cô không ghi chép các thuật ngữ pháp lý. Cô ghi: Chú Sáu — sợ chậm chuyến vì kẹt xe Cộng Hòa, sợ bị trừ lương nếu rớt chuyến bay. Nhân viên cân — sợ thủ tục dài làm ùn tắc băng chuyền lúc cao điểm 4 giờ chiều.

Khoa nhìn chiếc xe tải đang nổ máy chờ. Anh hiểu nếu chỉ áp đặt cái checklist chuẩn của ông Vũ từ trên xuống, những người như chú Sáu sẽ tìm cách lách hoặc ký khống cho xong chuyện. Tuyến đầu luôn có cách để làm cho quy trình trên giấy trông thì hoàn hảo nhưng thực tế vận hành lại trống rỗng.

“Chú Sáu,” Khoa bước lên một bước, giọng mềm mỏng nhưng rõ ràng. “Cháu không bắt chú làm chậm đi. Cháu muốn biết thật sự nếu làm đúng checklist thì mất thêm bao nhiêu phút. Chiều nay cháu với em Trâm đây xin phép ngồi cabin đi cùng chuyến của chú ra sân bay. Trâm nó sẽ bấm giờ từng bước: lúc chú nhận hàng, lúc kiểm seal, lúc đo nhiệt độ. Nếu thực tế nó làm chú chậm chuyến thật, cháu về sửa lại checklist với anh Hoàng.”

Sáu nhìn Khoa, rồi nhìn sang bà Hạnh Nam.

“Đi cabin nóng lắm đấy,” Sáu nói, giọng dịu đi một chút nhưng vẫn đầy vẻ thách thức. “Với lại ra sân bay chờ làm thủ tục có khi mất ba tiếng đồng hồ, hai đứa chịu nổi không?”

“Chịu được chú,” Khoa cười. “Cháu dân chạy thực địa miền Trung quen rồi.”

Bà Hạnh Nam nhìn Hoàng, rồi gật đầu với tài xế Sáu: “Cho tụi nó đi đi, anh Sáu. Để tụi nó thấy cái nắng ngoài đường nó khác cái máy lạnh văn phòng thế nào.”

Sáu vỗ mạnh lên thành thùng xe lạnh, tiếng kim loại kêu vang giòn giữa kho:

“Giấy tờ không chở hàng giùm mấy cậu đâu.”

Khoa bước tới cạnh cửa cabin, quay lại nhìn Sáu rồi đáp:

“Đúng. Nhưng thiếu giấy tờ thì xe chú có chạy tới cổng sân bay cũng quay đầu.”

Sáu im lặng nhìn Khoa một lúc, rồi trèo lên cabin, đề máy. Tiếng ống xả xe tải khạc ra một làn khói đen, rung bần bật chuẩn bị lăn bánh. Hoàng đứng dưới đất nhìn theo, tay nắm chặt cuốn sổ tay. Anh biết, chuyến đi chiều nay của Khoa và Trâm sẽ quyết định xem quy trình mặt đất của họ có thể sống được trên những con đường Sài Gòn hay không.