Chương 159
Bản báo cáo đánh giá nội bộ của kỹ sư hệ thống Lê Hồng Dũng gửi tới lúc ba giờ chiều.
Phương Anh ngồi trước chiếc máy tính xách tay đặt tạm trên chiếc bàn gỗ thông ghép ở góc văn phòng kho Bình Thạnh. Gió từ con hẻm mang theo hơi ẩm của cơn mưa rào hồi sáng thổi vào qua ô cửa chớp lách cách, mang theo mùi dầu máy pha lẫn mùi bao bì giấy cũ. Cô kéo kính mắt xuống sống mũi, ngón trỏ giữ chặt phím cuộn của chuột quang.
Màn hình hiển thị một bảng Excel có ba cột phân loại màu sắc: Đỏ, Vàng, Xanh. Đây chính là hệ thống quản lý rủi ro hiện trường mà ông Nguyễn Minh Tân đã đề xuất và triển khai trong buổi diễn tập sửa lỗi giả định ngày hôm qua.
Ở góc phòng, Nguyễn Minh Hoàng đang tựa lưng vào mép chiếc tủ hồ sơ bằng tôn màu xám. Tay anh cầm một chai nước khoáng đã vặn nắp nhưng chưa uống ngụm nào. Mắt anh không rời khỏi màn hình máy tính của Phương Anh, hay chính xác hơn, anh đang nhìn vào khoảng không phía trên nó, nơi giao diện của Tấm Gương Phản Chiếu đang hiển thị cột chỉ số AN TOÀN HỆ THỐNG ở mức 4/5, với một chấm tròn màu cam nhỏ nhấp nháy bên cạnh biểu tượng kho Bình Thạnh.
“Dũng gửi lúc hai giờ năm mươi bảy phút,” Phương Anh nói, giọng cô không có vẻ gì là vội vã. Cô đọc kỹ từng dòng trong email đi kèm của Dũng, rồi lặp lại việc đó thêm hai lần nữa. “Cậu ấy rà lại toàn bộ nhật ký sự cố giả lập của tuần trước. Cả vụ thiếu chữ ký đôi trên tờ khai hàng nguy hiểm DG và vụ xe trung chuyển trễ mười lăm phút dẫn đến lệch múi giờ quét mã vạch ở đầu sân bay.”
Hoàng hỏi, giọng hơi trầm xuống: “Dũng nói thế nào?”
“Cậu ấy viết thế này: ‘Việc áp dụng quy trình thẻ ba màu của chú Tân đã giải quyết được 92% xung đột phân loại hàng hóa tại mặt đất. Việc dán thẻ đỏ ngay tại khâu dỡ hàng từ xe gom giúp công nhân bốc xếp không phải nhớ mã SKU phức tạp. Tuy nhiên, hệ thống ghi nhận một lỗi trễ xử lý dữ liệu ở khâu quét mã vạch kiểm tra chéo (cross-check). Khi thủ kho dùng thiết bị cầm tay quét mã của kiện hàng đã dán thẻ vàng, dữ liệu đồng bộ về máy chủ trung tâm mất trung bình 4,2 giây, thay vì dưới 1,5 giây như thiết kế ban đầu. Nguyên nhân do thiết bị phát wifi ở góc kho bị khuất sau đống pallet gỗ’.”
Phương Anh xoay màn hình máy tính về phía Hoàng. Cô trỏ ngón tay vào ô dữ liệu được tô màu vàng nhạt trên bảng tính.
“Dũng đồng ý ký biên bản nghiệm thu nội bộ, nhưng đi kèm điều kiện giám sát định kỳ mỗi tuần một lần trong suốt ba mươi ngày đầu vận hành lô kiểm chứng. Nếu tỷ lệ trễ đồng bộ vượt quá 5% trên tổng số một nghìn kiện hàng đầu tiên, Cổng Việt có quyền đình chỉ quyền khai thác tạm thời của kho Bình Thạnh để cấu hình lại mạng cục bộ.”
Hoàng thở ra một hơi dài, đặt chai nước xuống bàn. Anh cảm nhận được một sự giải tỏa rất nhẹ, giống như tiếng lách cách của chiếc lò xo được đưa về đúng vị trí của nó.
“Như vậy là chúng ta có biên bản kiểm tra đạt chuẩn,” Hoàng nói, ánh mắt chuyển từ màn hình sang đống pallet gỗ xếp gọn gàng ở góc sân kho phía ngoài. “Mặc dù là đạt chuẩn có điều kiện.”
“Trong logistics hàng không, không có cái gọi là ‘đạt chuẩn tuyệt đối’ đâu Hoàng,” Phương Anh gập máy tính lại, tiếng bản lề cạch một tiếng khô khốc. “Một hệ thống không có lỗi chỉ tồn tại trong các slide thuyết trình gọi vốn. Dũng đồng ý cho qua với điều kiện giám sát nghĩa là cậu ấy tin rằng chúng ta có khả năng tự sửa lỗi khi nó xảy ra, chứ không phải chúng ta là những kẻ hoàn hảo.”
Cô đứng dậy, phủi nhẹ vệt bụi bám trên ống quần bảo hộ màu xanh sẫm. “Bây giờ là phần khó hơn. Báo cáo này đã được gửi đồng thời cho Khánh Chi bên công ty bảo hiểm hàng hải và hàng không Á Châu. Cô ấy hẹn chúng ta bốn giờ chiều tại văn phòng quận 1 để thương thảo lại phí bảo hiểm cho lô kiểm chứng.”
Văn phòng của Khánh Chi nằm trên tầng mười hai của một tòa nhà kính màu xanh nhìn ra sông Sài Gòn. Bên trong phòng họp nhỏ, máy lạnh chạy êm ru, thổi ra luồng khí mát lạnh có mùi tinh dầu sả nhẹ nhàng, khác hẳn với mùi dầu máy và bụi băm của kho Bình Thạnh.
Khánh Chi mặc một bộ vest màu xám tro cắt may vừa vặn. Cô ngồi đối diện với Hoàng và Phương Anh, trên tay là bản in báo cáo đánh giá của Dũng cùng với tệp tài liệu ghi nhận sự cố dừng hàng của chuyến hàng quà Tết hồi tháng trước.
“Tôi đã đọc kỹ báo cáo post-mortem (sau sự cố) của các bạn về chuyến hàng quà Tết,” Khánh Chi mở lời, ngón tay cô gõ nhẹ lên tập hồ sơ. “Thành thật mà nói, lúc đầu khi nhìn thấy con số lệch 7% trọng lượng và thể tích ở khâu cân đo tại kho Bình Thạnh, ban thẩm định rủi ro của chúng tôi đã muốn áp mức phí bảo hiểm tối đa dành cho nhóm doanh nghiệp khởi nghiệp chưa có chứng chỉ IATA. Mức phí đó có thể lên tới 1,2% giá trị khai báo của mỗi lô hàng.”
Hoàng không vội vàng giải thích. Anh nhớ lại lời khuyên của Lê Quang Vũ: Khi đàm phán với bảo hiểm, đừng cố chứng minh mình không bao giờ phạm sai lầm. Hãy chứng minh mình biết chính xác sai lầm nằm ở đâu và mất bao lâu để dọn dẹp nó.
“Chúng tôi không phủ nhận sai lệch 7% đó, chị Chi,” Hoàng nói, giọng điệu điềm tĩnh và rõ ràng. “Nhưng nếu chị nhìn vào trang ba của báo cáo, sai lệch đó không phải do lỗi cân đo ngẫu nhiên, mà là do sự khác biệt giữa quy chuẩn đóng gói thùng carton chứa hoa quả sấy của hộ nông dân và tiêu chuẩn pallet gỗ chịu lực của hãng bay. Chúng tôi đã lập tức dừng lô hàng đó ngay tại cửa kho Bình Thạnh. Việc dừng hàng này khiến chúng tôi chậm tiến độ giao hàng sáu tiếng, nhưng nó đảm bảo không có một gram hàng hóa nào sai lệch được đưa lên kho hàng sân bay Tân Sơn Nhất.”
Phương Anh đẩy thêm một tờ tài liệu sang phía Khánh Chi. “Đây là nhật ký vận hành ba ngày gần nhất sau khi chúng tôi áp dụng quy trình kiểm soát ba màu của chú Tân. Chị có thể thấy, thời gian xử lý các kiện hàng nghi ngờ (thẻ vàng) đã giảm từ hai tiếng xuống còn mười lăm phút. Tất cả các kiện hàng có nguy cơ gây mất an toàn bay hoặc sai lệch thông tin khai báo đều bị dán thẻ đỏ và giữ lại ngay từ vòng ngoài.”
Khánh Chi cầm tờ tài liệu lên, lướt nhanh qua các con số. Ánh mắt cô dừng lại ở cột chữ ký đôi của thủ kho và nhân viên giám sát an toàn đối với các lô hàng chứa pin lithium nhỏ và chất lỏng dễ cháy.
“Việc ký đôi này được thực hiện bằng giấy hay bằng ứng dụng?” Khánh Chi hỏi.
“Cả hai,” Hoàng đáp. “Thủ kho ký trên bản xác nhận giấy dán trực tiếp trên kiện hàng để nhân viên bốc xếp dễ nhận biết bằng mắt thường, đồng thời quét mã xác nhận qua ứng dụng Cổng Việt để lưu lại dấu vết số hóa trên hệ thống. Dữ liệu này được đồng bộ thời gian thực về máy chủ để phục vụ cho việc hậu kiểm.”
Khánh Chi im lặng một lát. Cô dựa lưng vào ghế, hai tay đan vào nhau đặt trên đùi.
“Các bạn rất dũng cảm khi gửi cho chúng tôi toàn bộ nhật ký post-mortem của các vụ sửa lỗi giả định,” cô nói, trên khóe môi xuất hiện một nụ cười nhẹ. “Thông thường, các đơn vị vận tải khi đi mua bảo hiểm sẽ cố gắng giấu kín các vụ lỗi kỹ thuật hoặc sự cố nội bộ. Họ sợ chúng tôi lấy đó làm cớ để tăng phí.”
“Nếu chúng tôi giấu, bảo hiểm có thể rẻ hơn được một chút ở giai đoạn đầu,” Hoàng thẳng thắn nhìn vào mắt Khánh Chi. “But when something goes wrong at thirty thousand feet, the truth will come out anyway. Và khi đó, cái giá phải trả không chỉ là tiền bảo hiểm, mà là toàn bộ giấy phép bay kiểm chứng của chúng tôi. Chúng tôi muốn xây dựng một hệ thống an toàn dựa trên sự thật, chứ không phải dựa trên sự may mắn.”
Khánh Chi gật đầu nhẹ. Cô mở chiếc cặp tài liệu da, lấy ra một bản thảo hợp đồng bảo hiểm mới và đẩy về phía Hoàng.
“Ban thẩm định của chúng tôi đánh giá cao tính minh bạch của Cổng Việt. Việc các bạn tự phát hiện lỗi, tự dừng hàng và có quy trình khắc phục rõ ràng bằng thẻ ba màu cho thấy rủi ro vận hành đang được kiểm soát chủ động. Vì vậy, chúng tôi quyết định áp dụng mức phí ưu đãi 0,65% cho lô hàng kiểm chứng đầu tiên. Điều kiện là toàn bộ dữ liệu quét mã vạch và nhật ký ký đôi của kho Bình Thạnh phải được mở cổng API để hệ thống giám sát của chúng tôi có thể truy cập ngẫu nhiên bất cứ lúc nào.”
Hoàng nhìn con số 0,65% trên bản thảo hợp đồng. So với mức 1,2% ban đầu, đây là một khoản tiết kiệm chi phí đáng kể cho giai đoạn thử nghiệm ngốn tiền này. Nhưng quan trọng hơn, con số này là sự thừa nhận của một định chế tài chính nghiêm khắc đối với năng lực quản lý mặt đất của họ.
“Chúng tôi đồng ý với điều khoản mở API,” Hoàng nói, cầm cây bút mực đen đặt sẵn trên bàn và ký vào bản ghi nhớ thỏa thuận.
Khi Hoàng và Phương Anh quay trở lại kho Bình Thạnh thì trời đã sẩm tối. Ánh đèn đường màu vàng nhạt bắt đầu hắt xuống những vũng nước mưa còn đọng lại trên mặt hẻm.
Bên trong kho, chiếc xe tải nhỏ của Nam Hải Cargo vừa hoàn thành việc bốc xếp chuyến hàng cuối cùng trong ngày. Ông Nguyễn Minh Tân đang đứng cạnh cửa kho, tay cầm một chiếc chổi tre quét sạch những mẩu dây niêm phong nhựa màu đỏ và vàng bị cắt bỏ trên nền bê tông. Dưới ánh đèn tuýp trắng, mái tóc hoa râm của ông bám một lớp bụi mỏng từ các thùng carton.
“Ba,” Hoàng bước vào kho, gọi khẽ.
Ông Tân dừng chổi, ngước lên nhìn con trai và Phương Anh. Ông dùng mu bàn tay lau mồ hôi trên trán, để lại một vệt xám mờ. “Về rồi đó hả? Bên bảo hiểm sao rồi con?”
“Họ đồng ý giảm phí xuống còn một nửa rồi ba,” Hoàng mỉm cười, bước tới gần và đón lấy chiếc chổi từ tay ông. “Họ đánh giá rất cao quy trình thẻ ba màu của ba. Đặc biệt là việc chúng ta dám tự dừng hàng để sửa lỗi.”
Ông Tân cười khà khà, nụ cười làm nếp nhăn nơi khóe mắt ông xô lại với nhau. “Có gì đâu mà cao siêu. Ở nhà máy hồi xưa cũng vậy thôi. Muốn sản xuất nhanh thì trước hết phải biết dừng máy đúng lúc khi có tiếng động lạ. Cứ cố chạy cho cố rồi có ngày bể bánh răng, đền ốm người chứ báu bở gì.”
Lúc này, một chiếc xe sedan màu đen bóng đỗ xịch trước cửa kho. Cửa xe mở ra, và cựu phi công Lê Quang Vũ bước xuống. Ông mặc chiếc áo sơ mi xanh thẫm quen thuộc, tay cầm một cặp tài liệu da dày cộm. Bước chân của ông vẫn có chút tập tễnh đặc trưng do chấn thương cũ, nhưng tư thế vẫn thẳng tắp và uy nghiêm.
“Chào anh Tân,” ông Vũ gật đầu chào bố Hoàng trước, rồi mới quay sang Hoàng và Phương Anh. “Tôi vừa nhận được email báo cáo của Dũng và biên bản ký kết với bảo hiểm Á Châu.”
“Mọi chuyện có vẻ đang đi đúng hướng rồi chú Vũ,” Hoàng nói. “Lô hàng kiểm chứng đầu tiên của chúng ta đã có đủ hồ sơ mặt đất, bảo hiểm cũng đã thông qua.”
Ông Vũ bước vào bên trong kho, mắt đảo quanh một lượt từ khu vực dán nhãn, khu vực cân đo cho đến đống pallet gỗ xếp ở góc. Ông đi tới chỗ chiếc cột bê tông lớn giữa kho, nơi có dán một bảng quy trình ứng phó sự cố khẩn cấp mới tinh do ông Tân tự tay viết bằng bút dạ đỏ trên giấy A0.
“Mặt đất đã thông qua,” ông Vũ lặp lại lời Hoàng, giọng ông trầm và lạnh lùng như thường lệ. Ông quay lại, nhìn thẳng vào Hoàng. “Nhưng Hoàng, cháu phải nhớ rõ một ranh giới: lô kiểm chứng mặt đất này chỉ là một tấm giấy phép tạm thời để chúng ta chạy thử nghiệm luồng hàng trên giấy tờ và kiểm tra tính tương thích của phần mềm Cổng Việt với hệ thống của hãng bay. Nó chưa phải là một hãng bay thực thụ.”
Hoàng hơi khựng lại. “Cháu hiểu mà chú.”
“Cháu chưa hiểu hết đâu,” ông Vũ bước lại gần Hoàng, chỉ tay ra hướng cửa kho, nơi bầu trời đêm đang chuyển dần sang màu đen sẫm của những đám mây giông tích tụ. “Trên bầu trời kia, khi một chiếc chuyên cơ chở hàng cất cánh, không có chỗ cho việc ‘thử và sai’. Ở mặt đất, các bạn dán thẻ vàng, dừng hàng sáu tiếng để cân lại, các bạn chỉ mất tiền đền bù chậm giờ. Nhưng ở độ cao mười nghìn mét, một sai lệch 7% về trọng tâm của khoang chứa hàng có thể khiến mũi máy bay bị hất ngược lên khi gặp luồng khí nhiễu động, dẫn đến hiện tượng thất tốc (stall). Và khi đó, phi công chỉ có vài giây để phản ứng trước khi máy bay lao xuống đất.”
Không khí trong kho bỗng trở nên im lặng đến mức có thể nghe rõ tiếng những hạt mưa bắt đầu rơi lẹt đẹt trên mái tôn.
“Chú Tân đã xây cho các cháu một cái móng rất vững ở đây,” ông Vũ quay sang nhìn ông Tân với ánh mắt đầy tôn trọng. “Nhưng cái móng này mới chỉ đỡ được một cái kho. Để đỡ được một đường bay, chúng ta cần hàng trăm cái móng như thế này ở khắp các tỉnh thành, kết nối đồng bộ với nhau mà không được phép có một giây trễ mạng nào như cái thiết bị wifi bị khuất sau đống pallet kia. Cháu hiểu ý tôi chứ?”
Hoàng gật đầu. Anh cảm nhận được sức nặng của những lời nói đó. Đó không phải là sự gạt đi những nỗ lực của họ, mà là sự kéo họ trở lại mặt đất của một người đã từng đối mặt với tử thần ở độ cao hàng ngàn mét.
“Cháu hiểu,” Hoàng trả lời, giọng chắc chắn. “Lô kiểm chứng này là để chúng ta chứng minh rằng phần mềm của Cổng Việt có thể kiểm soát được những sai lệch nhỏ nhất ở mặt đất trước khi chúng biến thành tai nạn trên không.”
“Tốt,” ông Vũ vỗ mạnh lên vai Hoàng. “Ngày mai, chúng ta bắt đầu vận chuyển lô hàng đầu tiên từ Bình Thạnh ra sân bay Tân Sơn Nhất. Tôi sẽ trực tiếp giám sát khâu bàn giao cho đại diện hãng bay.”
Sau khi ông Vũ và Phương Anh ra về để chuẩn bị cho buổi làm việc sáng mai, Hoàng vẫn ở lại kho Bình Thạnh.
Ba anh đang lúi cúi dọn dẹp nốt những sợi dây niêm phong thừa dưới chân các kiện hàng. Hoàng bước tới, nhặt một mẩu dây niêm phong màu đỏ bị cắt đứt dưới nền xi măng lên. Mẩu nhựa cứng, có những khía răng cưa nhỏ dùng để giữ chặt khóa niêm phong.
Anh mở giao diện hệ thống lên.
Trước mắt anh, đốm cảnh báo màu cam tại vị trí kho Bình Thạnh đã biến mất, thay vào đó là một màu xanh lá cây dịu nhẹ. Cột chỉ số AN TOÀN HỆ THỐNG từ từ dâng lên, lấp đầy vạch xám cuối cùng và chuyển sang màu xanh lục đậm hoàn chỉnh: 5/5.
Một dòng thông điệp màu vàng kim từ từ xuất hiện trên giao diện Tấm Gương Phản Chiếu:
“Nhiệm vụ hoàn thành: Đồng bộ hóa an toàn mặt đất. Chỉ số An toàn hệ thống đạt mức tối đa cho giai đoạn chuẩn bị. Thông điệp hệ thống: Một hệ thống biết bay bắt đầu từ nơi nó dám đứng yên.”
Hoàng nhìn dòng chữ chạy qua rồi biến mất vào khoảng không. Anh không cảm thấy một sự phấn khích tột độ nào. Chỉ có một cảm giác tĩnh lặng và vững chãi lan tỏa trong lòng.
Anh nhìn xuống ba mình. Ông Tân đang cúi người, bàn tay thô ráp đầy những vết chai sần vì lao động đang cẩn thận nhặt lấy một mẩu dây niêm phong nhỏ xíu bị kẹt trong khe nứt của nền bê tông kho. Ông không nhìn lên bầu trời, cũng không quan tâm đến những chỉ số vô hình nào đó đang hiển thị trong không khí. Ông chỉ quan tâm đến việc mặt sàn dưới chân mình phải thật sạch sẽ và không có bất kỳ thứ gì có thể làm vấp chân những người công nhân bốc xếp ngày mai.
Hoàng cất mẩu dây niêm phong vào túi quần, đi tới bên cạnh ba và cùng ông dọn dẹp phần sàn kho còn lại dưới ánh đèn tuýp đang tỏa ra thứ ánh sáng trắng dịu mát của đêm muộn.