Chương 39 — Tiếng gõ gầm cầu
Chương 39 — Tiếng gõ gầm cầu
Mưa trút xuống kênh Tàu Hủ. Nước gõ mái tôn dãy kho bến Bình Đông rào rào, hòa mùi sình non và mùi dầu bốc lên từ chiếc ghe chài neo mép bờ.
Uyên kéo nón lá, cầm chổi gom rác vào góc sọt tre. Bộ bà ba xám dính chặt bả vai. Đôi ủng rêu che bàn chân còn dán băng sau tai nạn cao tốc. Trong mắt dân buôn bến sông, cô là đứa cháu câm lặng của vựa trái cây số chín, dạt từ Cần Giuộc lên tìm việc, luôn bịt khẩu trang vải hoa. Dưới lớp vải là hơi thở nén chặt của một người mang danh tính kẻ đã chết ở Chợ Rẫy.
Uyên dừng chổi, liếc qua khe hai sọt tre. Phía bên kia đường, tiệm cầm đồ Đại Tín lọt thỏm giữa tiệm sửa xe máy và bãi phế liệu. Cửa sắt cuốn kéo lửng lơ, chừa khe vừa một người lách qua. Từ sau đêm đàn em Hòa Ba đập phá tủ kính rồi bị tóm ở Tân Tạo, khu vực quanh tiệm chưa từng yên ắng. Quanh các ngõ xóm Chợ Lớn luôn có những cặp mắt rình rập.
Mười ba giờ bốn mươi.
Một chiếc xe cũ trờ tới trước tiệm. Gã áo gió nhảy xuống, lách qua khe cửa sắt. Chưa đầy ba phút, gã trở ra với phong bì nylon chống nước rồi phóng vội về phía cầu Chà Và. Đó là lượt người thứ tư ghé tiệm trong hai tiếng. Không ai mang đồ vào cầm, lúc về đều cầm giấy tờ phẳng phiu.
Uyên xách sọt rác qua bờ kè, gõ ba nhịp chổi vào thành rào sắt: hai nhịp ngắn, một nhịp dài. Ám hiệu Bách dặn cô trước khi tra tay vào còng sắt của Thượng tá Tuấn.
Cửa ngách bên hông tiệm hé mở. Que tăm gãy cắm ở then gỗ rơi tõm xuống vũng nước.
Uyên buông chổi, lách qua con hẻm tối.
Mùi ẩm mốc, khói nhang muỗi và dầu gió xanh xộc vào mũi khi cô bước qua cửa sau. Gian nhà trong ngổn ngang: tủ kính vỡ thay bằng ván ép, sàn xi măng còn vệt dầu hỏa loang lổ.
Bà Mẫn ngồi trên ghế đẩu góc gác gỗ, áo bà ba đen che mạn sườn quấn băng thun sau trận đòn của tay chân Hòa Ba. Ánh mắt sắc của người đàn bà phố chợ nhìn Uyên khi cô kéo khẩu trang xuống.
“Con bé kiểm toán sống dai thật.” Giọng bà Mẫn trầm đục. “Thằng Bách vô Chí Hòa rồi, cô không trốn ở chòi Lò Gốm đi, mò ra đây làm chi cho tụi nó ngửi thấy mùi?”
“Cháu cần xem sổ thế chân.” Uyên ngồi xuống chiếu manh. “Có khoản tiền bồi thường lớn sắp giải ngân ngoài hệ thống. Cháu cần biết ai gom giấy tờ của người nghèo quanh đây.”
Bà Mẫn đặt chén trà quao xuống bàn nứt, ngón tay đồi mồi gõ lên cuốn sổ bọc da rách góc nằm dưới chiếc cân tiểu ly.
“Hòa Ba gãy tay, nằm viện có lính gác, nhưng đám bên dưới không chịu chết đói đâu.” Bà hạ giọng. “Tiền từ trên cao rót xuống như mưa. Cứ mỗi tờ giấy báo tử hợp lệ kèm chứng thư nhân thọ quá hạn hai năm, tụi nó trả tươi năm chục triệu tiền mặt.”
“Năm chục triệu cho một mạng người?”
“Ở bến sông này, nhiều người cả đời không thấy cọc tiền trăm ngàn nguyên vẹn.” Bà cười nhạt. “Vay nóng lo thuốc men, chuộc ghe nát. Cùng đường thì có kẻ sơ mi trắng xách cặp da tới bày cho ký khế ước. Phí hàng tháng vài trăm ngàn, tụi nó cho vay luôn. Đổi lại, người vay ký chuyển quyền thụ hưởng cho quỹ tín thác ngầm. Người nghèo nghĩ mình chỉ cắm tạm tờ giấy vô giá trị. Họ đâu biết khi chữ ký ráo mực, mạng sống đã bị định giá.”
Bà đẩy cuốn sổ sang. Bản năng kiểm toán kéo Uyên vào từng con số.
Cô rút điện thoại chụp từng trang. Trên giấy ô vuông học trò, nét chữ xiêu vẹo của bà Mẫn ghi rành rọt: tên họ, chứng minh cũ, mã hợp đồng bên Aegis, số tiền vay, và cột ghi chú gạch chéo mực đỏ: “Trần Văn Th., thợ hồ ngã giàn giáo Quận 7. Đã tất toán.” “Lê Thị M., bán vé số bị xe tải cán ở Phú Lâm. Đã tất toán.” “Nguyễn Hữu Đ., công nhân chết đuối kênh Nhiêu Lộc. Đã tất toán.”
Tất cả đều xảy ra ngay sau khi hợp đồng qua tháng thứ hai mươi lăm, vừa vặn thoát điều khoản loại trừ trục lợi của luật kinh doanh.
Uyên soi cột chữ ký bên nhận thế quyền. Cạnh dấu vân tay người vay luôn có chữ ký đại diện Quỹ Helios bằng mực bi xanh thẫm, đuôi chữ ngắt thành ba chấm nhỏ đứt quãng. Nét ký của Đặng Vĩnh Thụy. Thói quen ngắt nhịp bút tạo ba chấm giả mà Uyên từng thấy trên hàng ngàn văn bản thẩm định rủi ro.
“Thụy bị bắt ở Nhà Bè rồi.” Uyên ngước nhìn. “Ai vận hành dòng tiền này tiếp?”
“Thụy chỉ vẽ kịch bản và con dấu kỹ thuật.” Bà Mẫn rít khói thuốc rê. “Sáng nay, quản lý bãi xe bồn Hoàng Phát bên Bình Tân cho người tới đòi chuộc sổ. Nó mang vali tiền mặt ép tao nộp bản gốc hồ sơ 094. Tao nói sổ bị công an thu rồi nó mới chịu đi, nhưng dọa ba ngày nữa không giao sẽ đốt rụi tiệm.”
Uyên lật nhanh về trang cuối cuốn sổ. Phần dưới trang rách còn rõ nét mực tím: “Nguyễn Văn Lành. Quê: Cần Thơ. Vay một trăm hai mươi triệu trả nợ tiệm đóng tàu. Thế chấp: Bốn chứng thư tử kỳ bổ sung, mã AG-8821 đến AG-8824. Bên nhận thế quyền: Quỹ Helios. Người chỉ định tiếp nhận việc làm: Công ty Vận tải Xăng dầu Hoàng Phát.”
Dưới tên Lành là chữ ký nhận việc cùng cam kết chấp thuận điều chuyển công tác theo bên tài trợ rủi ro.
Ở ô xác nhận của bên thế quyền, không còn nét ký của Thụy nữa.
Một con dấu vuông màu mực đỏ tươi ghi: “Ban Quản lý Tài sản Đặc biệt - Aegis Capital Việt Nam”, kèm chữ ký nháy bằng bút máy mực đen lượn sóng hình cánh cung kép.
Tim Uyên đập thắt lại. Đường lượn sóng cánh cung kép từng xuất hiện trên các biên bản nghị quyết hội đồng quản trị Aegis trong đợt kiểm toán độc lập sáu tháng trước. Chữ ký nháy của người nắm quyền điều hành cao nhất tại Việt Nam.
“Chúng không chỉ nhắm vào tiền bồi thường của một người nghèo.” Uyên siết mép bàn. “Chúng biến anh ta thành công cụ cho một vụ nổ lớn. Một tài xế lái xe bồn chở đầy xăng dầu gặp nạn ở vòng xoay hay trạm cấp nhiên liệu… đó là thảm họa công cộng.”
“Khi có thảm họa công cộng,” bà Mẫn tiếp lời, “bảo hiểm quốc tế sẽ tái bồi thường hàng trăm tỷ cho trách nhiệm dân sự. Một vụ nổ xóa sạch dấu vết những khoản lỗ đen trong quỹ đầu tư.”
Cạch. Cạch. Cạch.
Ba tiếng gõ khô khốc vang lên từ tấm cửa sắt phía trước. Nhịp gõ kim loại cách đều: một nhịp, ngừng hai giây, rồi bồi thêm hai nhịp ngắn.
Bà Mẫn giật thót, lập tức ấn mẩu thuốc rê vào chén nước trà cặn:
“Tai mắt của thằng Hòa Ba quay lại. Tụi nó nghi tao giấu sổ.”
“Cửa sau còn thông ra rạch không bà?” Uyên nhét vội điện thoại vào túi áo, kéo nón lá.
“Rạch Lò Gốm đang cạn, sình ngập tới gối.” Bà Mẫn dúi mạnh cuốn sổ rách góc vào ngực Uyên. “Cầm lấy. Bách nói chỉ có cô mới đọc ra mớ số ma quỷ này để cứu thằng Lành. Trèo cửa sổ gác lửng, tụt xuống nóc ghe cát dưới gầm cầu cạn. Đừng quay đầu lại!”
Dưới nhà, tiếng đập cửa sắt rầm rầm vang lên. Khóa xích rên ken két khi có vật cứng nạy vào mép tôn.
“Mở cửa ra bà già! Biết bà ở trên đó! Không giao sổ nợ tụi này tưới xăng đốt rụi bây giờ!” Tiếng quát the thé vọng lên qua khe ván.
Uyên ôm chặt cuốn sổ trước ngực, trèo qua bậu cửa sổ ẩm mục phía sau gác.
Mưa rào quất rát mặt. Dưới chân cô, dòng nước rạch Lò Gốm cuộn quanh trụ bê tông bám rêu của gầm cầu cạn bến Bình Đông. Chiếc ghe chở cát tròng trành cách bậu cửa chừng hai mét.
Uyên hít một hơi mùi bùn nồng, buông mình xuống khoang cát.
Bịch một tiếng nặng nề. Cát ướt lún sâu giữ chân cô, triệt tiêu xung lực.
Phía trên đầu, tiếng cánh cửa gỗ gác xép bị đạp bung chát chúa hòa cùng tiếng chửi rủa của đám người lạ bị bỏ lại sau màn mưa dông. Uyên cúi rạp trên khoang ghe, ngón tay bám chặt lớp bìa da sũng nước của cuốn sổ, nơi mười một ngày đếm ngược của một mạng người vô tội đang bắt đầu từng giây lạnh lẽo.