Chương 121 — Cát mặn đầu ghềnh
Chương 121 — Cát mặn đầu ghềnh
Xe đò thả ba người xuống ngã ba Ghềnh Ráng khi mặt trời vừa ló rạng trên biển Quy Nhơn. Gió vịnh thốc vào mặt mang vị mặn của muối, mùi nồng rong rêu và hơi nóng bốc lên từ mặt đường, khác hẳn cái lạnh ở Đắk R’măng họ vừa rời chiều qua.
Tài quệt mồ hôi trán sau đêm dài xóc nảy, tay ôm chặt chiếc hòm gỗ sơn son bọc vải điều dán mấy đạo bùa chu sa. Bên trong hòm là máy đo phản xạ quang học OTDR mượn từ tổ kiểm định viễn thông đêm trước.
“Gió biển rát mặt quá anh Khải,” Tài thở dốc, kéo lại quai ba lô. “Cái hòm long mạch này nặng ghê hồn.”
Khải phủi lớp cát trên cổ áo, nhìn về triền đồi sát mép sóng. Giữa vách đá bazan, khối nhà bê tông quét sơn trắng chống mặn nằm lọt thỏm sau hàng rào thép gai: Trạm cập bờ cáp quang biển quốc tế Ghềnh Ráng, mắt xích thứ hai trong mười hai trung tâm dữ liệu huyết mạch.
“Đừng phân tâm,” Linh bước lên, túi chống sốc đựng máy tính dã chiến khoác chéo ngang ngực. “Chiến thư P2P của Lê Tuấn Minh gửi thẳng tọa độ trạm này. Cửa ngõ viễn thông biển là điểm tiếp đất của tuyến cáp trục nối sang phân vùng tài chính Đông Nam Á. Nếu trạm này tê liệt, toàn bộ thanh toán quốc tế lẫn dữ liệu ngân hàng miền Trung coi như bị mù màu.”
Nhờ giấy giới thiệu đóng dấu đỏ của Thượng tá Dũng, bảo vệ vội dẫn cả ba vào khu điều hành.
Trong phòng trạm trưởng, không khí ngột ngạt khó thở. Máy lạnh rền rĩ phả hơi buốt không át nổi mùi khét khói thuốc. Trên bàn gỗ trải la liệt hải đồ cùng hàng chục xấp biên bản sự cố in vội còn nóng mực.
Ngồi sau đống giấy tờ là trạm trưởng Đặng Hữu Trực, tóc hoa râm, mắt đỏ hoe vì mất ngủ. Tay kẹp điếu thuốc tàn sát đầu lọc, ông ta quát vào ống nghe:
“Tôi nhắc lại, không phải lỗi trạm bờ! Nguồn PFE nuôi bộ lặp ngoài khơi vẫn đủ bốn ngàn vôn. Đèn suy hao khung ODF nhảy đỏ từ rạng sáng qua là do tàu cá cào đáy bãi Xép quét vào hành lang an toàn! Cáp bọc thép gặp giàn cào sắt mười tấn thì lõi nào chịu nổi? Tổng công ty cứ đòi phạt SLA mỗi giờ mười ngàn đô thì trạm lấy đâu ra tiền đền?”
Trực dằn mạnh ống nghe, thở dốc rồi ngước nhìn ba người lạ: “Mấy người bên nào? Trạm đang sự cố đứt cáp cấp một, không tiếp khách.”
Khải bước lại gần cửa sổ nhìn ra bãi đá, giơ thước tầm long bọc đồng ngắm đường chân trời rồi lắc đầu:
“Trạm trưởng Trực quả là người gánh hạn thay thiên hạ. Hướng đông nam thuộc cung Tốn, triều Thị Nại ép vào lạch đá tạo thế Xuyên Tâm Thủy, sát khí đâm thẳng xuống đáy bùn. Anh đổ lỗi cho tàu cá cào rách cáp, nhưng mấy tờ biên bản tai nạn kia bên Biên phòng họ chưa chịu ký, đúng không?”
Trực sững sờ, điếu thuốc suýt rơi khỏi mép. Xấp công văn góc bàn quả thật chưa có chữ ký đồn biên phòng cảng.
“Sao anh biết?” Trực nuốt nước bọt.
“Nhìn con nước là rõ,” Khải ngồi xuống đối diện Trực. “Đêm qua nước ròng sát đáy, luồng ngoài mũi Én đá ngầm lởm chởm. Dân cào đáy nào dám liều mạng quét sát rạn cách bờ chưa đầy một hải lý để vỡ vỏ tàu? Anh đang tìm con cừu thế mạng làm báo cáo bất khả kháng gửi đối tác Singapore hòng thoát án phạt triệu đô.”
Trực gục đầu xuống hai bàn tay chai sần, giọng cay đắng: “Thầy nói trúng tim đen tôi rồi. Rạng sáng qua, tám đôi sợi quang trục sụt công suất nghiêm trọng, mạng nghẽn tới tám mươi phần trăm. Đối tác nước ngoài tính phạt từng giờ. Nếu kết luận lỗi do trạm quản lý kém hoặc bị can thiệp kỹ thuật, tôi mất chức và dính án hình sự. Chỉ có biên bản tàu cào đáy mới cứu được chén cơm anh em!”
Linh tiến lên một bước, mắt sắc lạnh nhìn thẳng vào Trực:
“Bao che bằng tai nạn giả không cứu được anh. Nếu tàu cào đứt cáp cơ học, lực kéo hàng chục tấn sẽ giật đứt dây đồng cấp nguồn PFE trước khi bẻ gãy lõi thủy tinh, mạch cao thế phải báo hở ngay. Đằng này nguồn bốn ngàn vôn của anh vẫn chạy êm. Dẫn chúng tôi xuống phòng ODF. Muốn giữ ghế và danh dự người thợ, phải để máy móc nói thật.”
Trực run rẩy rút chùm chìa khóa điện tử, dẫn cả ba xuống hầm kỹ thuật số hai khoét sâu dưới chân vách đá.
Căn phòng phối quang ODF dày đặc tiếng quạt hút ẩm. Tại tủ cáp trục số một, dãy đèn LED đỏ rực chớp nháy liên hồi báo hiệu sụt công suất quang hơn sáu đê-xi-ben.
Linh mở hòm gỗ lấy máy đo OTDR, đeo găng chống tĩnh điện, tháo nắp sợi cáp tối dự phòng chạy chung vỏ thép bảo vệ, lau sạch đầu nối sứ rồi cắm vào cổng phát xung la-de.
“Bước sóng một ngàn năm trăm năm mươi na-nô-mét,” Linh nói ngắn gọn. “Tài, giữ kẹp quang.”
Linh nhấn nút quét. Tia la-de phóng qua lõi thủy tinh lao thẳng ra biển. Trên màn hình máy đo, đường đồ thị tán xạ ngược vẽ ra theo thời gian thực.
Trực nín thở nhìn. Nếu cáp đứt cơ học, đồ thị sẽ rơi thẳng đứng như vực thẳm. Nhưng đường suy hao lại chạy phẳng lỳ suốt một cây số đầu tiên dưới đáy cát.
Đến mốc cự ly một ngàn tám trăm mét, đường tín hiệu đột ngột hạ thấp xuống một nấc vuông vức như bậc thang kẻ chỉ, sụt đúng ba đê-xi-ben công suất quang rồi tiếp tục chạy tắp ra khơi xa.
“Ba đê-xi-ben?” Trực kinh ngạc thốt lên. “Sao lại sụt đúng ba đê-xi-ben ở mốc đó? Nghĩa là công suất bị chia đôi tròn năm mươi phần trăm!”
Linh nhìn Trực, giọng lạnh tanh:
“Đúng vậy. Ba đê-xi-ben là mức chia tách chuẩn xác của một bộ ghép quang thụ động. Không có lưới cào hay mỏ neo nào rạch vỏ thép dưới đáy biển rồi cắm bộ chia sợi quang để trích đúng nửa luồng ánh sáng ra ngoài cả.”
Khải nhìn thông số tọa độ trên máy:
“Cự ly một ngàn tám trăm mét tính từ trạm bờ… Vị trí này sâu bao nhiêu, trạm trưởng Trực?”
“Dưới lạch sâu rạn Én, cách bờ chưa đầy một hải lý,” Trực run giọng đáp. “Sâu chừng hai mươi mét nước, dòng ngầm cực kỳ lặng.”
“Vị trí quá lý tưởng để thợ lặn kỹ thuật hoặc tàu ngầm không người lái thao tác,” Khải nói rành rọt. “Họ không phá hủy tuyến cáp. Họ biến nó thành chiếc vòi hút trộm dữ liệu quốc tế. Một nửa luồng tín hiệu vẫn về trạm để duy trì mạng thoi thóp, còn một nửa bị bẻ hướng sang thiết bị ký sinh ngoài biển.”
Phòng ODF lặng ngắt trước sự thật. Bản báo cáo tai nạn ma sụp đổ hoàn toàn.
Khải nhìn qua ô thoáng hầm máy hướng ra mặt biển lấp loáng nắng sớm, nơi vệt bóng mờ của một con tàu lạ vừa xuất hiện nơi đường chân trời xa thẳm. Trận chiến cáp ngầm duyên hải đã chính thức bắt đầu.