Chương 175 — Bo mạch mồ côi
Chương 175 — Bo mạch mồ côi
Nắng chiều hầm hập phả hơi nóng từ mặt đường nhựa xuống dòng kênh Tàu Hủ. Nước kênh đen quánh sủi tăm, bốc mùi dầu máy từ các xưởng tiện ven bờ.
Tài lách xe qua dãy hàng quán lụp xụp, rẽ vào con hẻm trải đá dăm. Cuối hẻm, mái tôn xưởng cơ khí của bác Ba Nghĩa nép mình dưới rặng trâm bầu già. Tiếng búa gõ đe sắt chan chát vang lên đều đặn.
Khải ôm chiếc ba lô trước ngực. Năm phiến bo mạch mẫu vừa mua ở Nhật Tảo nằm im sau lớp xốp. Kho dự phòng Hòa Lạc chỉ còn cầm cự mười chín ngày, trong khi Megacore đã cắt đứt hoàn toàn tài liệu kỹ thuật của dòng chip mới.
Tài chống xe, gạt vệt mồ hôi lem dầu trên trán:
“Xưởng bác Ba kia rồi anh Khải.”
Hai người bước qua bậc cửa sắt rỉ sét. Trong xưởng ngập mùi dầu biến thế và khói thuốc lào. Bác Ba Nghĩa ngồi trên ghế đẩu, hai tay nắn cuộn dây đồng của chiếc mô-tơ bơm chìm. Thấy Khải và Tài, người thợ già đặt kìm xuống đe, tháo kính lau vào vạt áo sờn:
“Hai đứa bay từ ngoài Bắc vô mà mặt mày hớt hải vậy? Cảng Đình Vũ siết gắt lắm hả?”
Khải ngồi xuống khúc gỗ lim, lấy phiến bo mạch bọc túi chống tĩnh điện đặt lên bàn:
“Vụ hàng ngoài đó anh Đạt đang lo. Tụi cháu cần bác xem giúp nguồn gốc mớ này.”
Bác Ba đón lấy tấm mạch, lướt ngón tay qua từng hàng chân linh kiện rồi đưa lên mũi ngửi:
“Mùi véc-ni đỏ bakelite pha nhựa cánh kiến. Mấy chục năm rồi tao mới ngửi lại. Tụi bây moi đâu ra thứ này?”
“Chợ trời Nhật Tảo bác ơi,” Tài đáp. “Người ta bảo tháo từ trạm biến thế với máy dệt. Nhưng đầu cầu Hòa Lạc soi kính hiển vi thấy đây là chip nhúng quân sự cuối thập niên 90, chịu nhiệt tới một trăm hai mươi lăm độ C.”
Bác Ba gõ nhẹ mẩu sắt vào lưng chip bọc gốm trắng viền vàng. Tiếng kim loại ngân lên đanh gọn:
“Máy dệt cái nỗi gì. Đám con buôn chỉ rình rỉa vàng vụn chứ biết gì gốc tích. Thứ này xuất xứ từ Nhà máy Z75, cách xưởng tao chừng ba cây số về phía hạ lưu rạch Bà Tàng.”
Bác Ba rót ba chén trà đặc, chậm rãi kể:
“Cuối thập niên 80, Z75 là cái nôi khí tài quân giới miền Nam, chuyên lắp ráp trạm nguồn dã chiến và hệ thống dẫn đường analog số. Sau năm 95, đơn vị chuyển đổi cơ cấu rồi bỏ hoang. Đám tủ điều khiển cũ dạt về trạm biến áp dân sự để chạy cầm chừng. Tài, mày mang đủ đồ đo kiểm không?”
“Dạ đủ bác, đồng hồ kim Sanwa với máy đo xung có sẵn trong túi.”
“Đi theo tao,” bác Ba rút chùm chìa khóa đồng đen bóng. “Tao dẫn tụi bây tới nơi cất giữ di sản của xưởng cũ.”
Ba người men theo lối mòn ngập cỏ dại dọc rạch Bà Tàng. Nắng chiều ngả vàng vọt trên những bức tường gạch đổ nát. Bác Ba dừng trước cánh cổng sắt cuốn hoen rỉ quấn xích to bản, gắn biển kim loại: “Xí nghiệp Z75”.
Tra chìa vặn mạnh một tiếng tạch khô khốc, cánh cửa sắt rít lên rồi hé mở. Luồng khí ẩm lạnh đặc mùi dầu mỡ bảo quản và giấy mốc xộc thẳng vào mũi.
Ánh đèn pin quét qua gian phòng rộng thênh thang. Khải sững người. Dọc theo vách tường là những dãy tủ rack thép tấm màu xám tro, sừng sững như pháo đài. Hàng trăm mặt đồng hồ kim tròn xoe, núm vặn bakelite và công tắc gạt mạ kền nằm im lìm dưới lớp bụi dày.
“Dàn máy tính analog giải phương trình vi phân và điều độ trạm nguồn thời trước,” bác Ba phủi bụi trên mặt kính. “Hồi xưa chưa có máy tính số, các cụ dùng chính những mạch tích phân khuếch đại thuật toán bằng đèn và transistor này để cân bằng lưới điện theo thời gian thực.”
Khải bước lại gần tủ điều khiển trung tâm, lau sạch tấm biển nhôm: “Hệ thống phối ghép nhúng BAP-92 - Lắp ráp tại Z75 năm 1994”.
“Anh Khải, xem ngăn kéo này!” Tài gọi khẽ.
Dưới ánh đèn, ngăn kéo trượt chứa hàng chục phiến mạch cắm ngay ngắn. Tài lấy đồng hồ Sanwa đặt hai đầu que đo vào chân nguồn của chip bọc gốm. Kim đồng hồ nảy dứt khoát rồi đứng yên ở vị trí lý tưởng.
“Nội trở tiếp giáp bán dẫn vẫn nguyên vẹn,” Tài reo lên. “Tụ tantan hạt đậu thể rắn chuẩn quân sự, không hề rò rỉ điện môi sau ba mươi năm.”
Khải vuốt mép bo mạch phíp thủy tinh dày dặn phủ lớp epoxy bảo vệ: “Hàng chân rết này mạ vàng dày thật sự.”
“Vàng mười nguyên chất để chống oxy hóa trong hầm ngầm đấy,” bác Ba cười. “Đám ve chai chỉ biết nấu axit lấy vài phân vàng, không hiểu giá trị cỗ máy nằm ở tinh thể bán dẫn bên trong. Đi sâu vô phòng trong với tao.”
Bác Ba dẫn cả hai qua cánh cửa thép chống cháy, bước vào gian kho nhỏ khô ráo hơn. Ở góc tường, dưới đống rơm khô mục lót sàn chống ẩm, ba chiếc thùng gỗ thông nẹp sắt đen nhánh hiện ra. Trên nắp thùng còn vệt sơn đỏ chữ cyrillic: “THIẾT BỊ MÁY TÍNH ĐIỆN TỬ - CẤM QUĂNG QUẬT”.
Bác Ba cầm xà beng mini cắm vào nẹp sắt: “Phụ tao bẩy nẹp, Khải!”
Khải và Tài xúm lại đè cán bẩy. Tiếng đinh sắt bật khỏi thớ gỗ rắc rắc khô giòn. Nắp thùng bật mở, xộc lên mùi sáp ong bảo quản và giấy dầu parafin đặc trưng của khí tài Liên Xô.
Khải gạt lớp giấy dầu dẻo quánh đã ngả màu da thuộc.
Bên dưới lớp lót, xếp ngay ngắn thành từng khay gỗ chia ngăn là hàng trăm phiến mạch vi xử lý công nghiệp nguyên niêm phong. Bản mạch xanh lục thẫm tinh xảo, thiếc hàn sáng bóng không một hạt bụi. Ở giữa mỗi tấm, chip xử lý bọc gốm trắng in ngôi sao năm cánh và mã hiệu: КР580ВМ80А - 1991.
Toàn bộ hàng trăm chân cắm kim loại mạ vàng óng ả, phủ nguyên lớp váng dầu bảo vệ trong suốt từ ngày xuất xưởng.
Tài nâng một phiến mạch lên, hai tay run run trước ánh đèn:
“Mới nguyên hộp anh ơi! Chưa từng qua lửa hàn hay cắm điện. Cả một sư đoàn vi xử lý mồ côi vẫn còn nguyên vẹn.”
Khải ngắm nhìn ánh vàng sắc lạnh phản chiếu trên mặt chip gốm, lồng ngực đập mạnh. Bọn tư bản cấm vận nghĩ rằng chặn vài chuyến hàng ở Đình Vũ là bóp chết được hạ tầng mở. Chúng không ngờ thế hệ kỹ sư đi trước đã để lại những khí tài kiên cường đến nhường này.
Bác Ba Nghĩa vỗ vai Khải, giọng đĩnh đạc:
“Thứ này chịu được nhiệt, chịu được rung xóc, không sợ xung điện từ. Tụi mày muốn làm phần mềm tự chủ, thì đây chính là xương sống phần cứng để bắt đầu.”
Khải siết chặt tay, nhìn người thợ già:
“Tài, bọc túi chống tĩnh điện lại. Bác Ba, đêm nay cháu nhờ xe tải chuyển toàn bộ về xưởng. Trận chiến phần cứng của chúng ta bắt đầu từ đây.”