Mã Nguồn Ngược Dòng Chương 215 / 219

Cuộc gặp ở Shin-Okubo

Những ngày đầu năm 2017 tại Sài Gòn mang theo những cơn gió chướng thổi thốc qua các giao lộ. Buổi sáng mùng sáu Tết, nắng vàng như mật đổ xuống khoảng ban công văn phòng Tô Hiến Thành, chiếu lên lớp bụi mịn còn đọng lại sau những ngày nghỉ dài. Tiếng còi xe hối hả từ ngã tư bùng lên, báo hiệu dòng người lao động đã bắt đầu quay trở lại nhịp sống thường nhật.

Bên trong phòng họp lớn, không khí lại mang một sắc thái hoàn toàn khác. Chiếc máy điều hòa cũ ở góc phòng chạy ro ro, phả ra luồng khí mát rượi xen lẫn mùi nhựa mới từ chiếc màn hình TV thông minh 65-inch mới lắp trên tường. Màn hình đang hiển thị giao diện phần mềm Zoom với ba khung hình kết nối trực tiếp từ ba đầu cầu khác nhau, tương ứng với ba múi giờ lệch nhau.

Hoàng ngồi lặng lẽ ở một góc bàn họp dài, chiếc ghế tựa bằng da của anh hơi lùi sâu vào khoảng tối sát chân tường. Anh không chuẩn bị giấy bút, cũng không mở laptop. Hai bàn tay đan chéo vào nhau đặt hờ trước ngực, đôi mắt gầy ngắm nhìn các khung hình động trên màn hình lớn. Phía sau góc mắt anh, cảm giác trống trải của một tầm nhìn không chỉ số vẫn hiển hiện như một thói quen cũ đã tắt, nhưng giờ đây nó chỉ mang lại sự tĩnh lặng tuyệt đối.

Ngồi ở vị trí trung tâm bàn họp là chị Linh. Trước mặt chị là một chồng tài liệu in sẵn, một cuốn sổ ghi chép bìa da màu xanh rêu và chiếc bút bi ngòi kim. Chị mặc chiếc áo sơ mi lụa màu xanh navy gọn gàng, mái tóc buộc cao để lộ gương mặt thanh tú đã bớt đi những nét khắc khổ của những năm tháng ở Yokohama. Ngồi bên cạnh chị là Phương Anh, tay lướt nhẹ trên màn hình iPad để theo dõi các điều khoản pháp lý liên quan. Khoa ngồi ở đầu bàn bên kia, thỉnh thoảng nhấp một ngụm cà phê đen đá, mắt không rời màn hình Zoom.

“Mọi người nghe rõ đầu cầu Sài Gòn nói không ạ?” Chị Linh cất tiếng gọi, giọng nói rõ ràng và có chút nhịp điệu tự tin của người đã quen điều phối các buổi làm việc nhóm.

Khung hình đầu tiên sáng lên. Gương mặt tròn trĩnh của anh Tuệ hiện ra giữa bối cảnh quen thuộc của tiệm thực phẩm Việt Nam tại Shin-Okubo. Phía sau anh, những thùng carton nước mắm Phú Quốc và bánh tráng Cổng Việt được xếp ngay ngắn trên kệ gỗ, vài gói mứt gừng đỏ và trà khô từ miền Trung vẫn còn sót lại từ đợt hàng Tết. Anh Tuệ mặc chiếc áo khoác phao dày màu đen, cổ quấn khăn len xám, tay cầm cốc trà nóng bốc hơi nghi ngút.

“Nghe rõ lắm Linh ơi!” Anh Tuệ vẫy vẫy tay trước ống kính. “Bên Tokyo đang là mười một giờ trưa, trời lạnh có bốn độ hà. Nhìn mấy đứa mặc áo sơ mi cộc tay trong Sài Gòn mà phát thèm.”

Khung hình thứ hai hiển thị Hiếu tại văn phòng logistics ở Osaka. Hiếu mặc bộ đồng phục kỹ thuật màu xanh xám, gật đầu chào nhẹ. Phía sau anh là tấm bản đồ cảng biển Osaka với những đường vẽ tuyến đường vận chuyển chằng chịt.

“Đầu cầu Osaka nghe rõ,” Hiếu nói, giọng miền Trung hơi trầm. “Tôi vừa từ bãi container về, đang chuẩn bị hồ sơ cho lô hàng hải sản khô tiếp theo.”

Khung hình cuối cùng hiển thị Thành ở Sydney. Thành ngồi trong một căn phòng làm việc tràn ngập ánh sáng mặt trời của mùa hè Nam bán cầu, phía sau là kệ sách chất đầy tài liệu ngoại thương và chứng từ nhập khẩu của Úc.

“Chào mọi người ở nhà, chào chị Linh,” Thành cười, chỉnh lại chiếc tai nghe. “Sydney đang là một giờ chiều. Hôm nay trời đẹp lắm, gió biển thổi lồng lộng.”

Chị Linh lật cuốn sổ tay, gõ nhẹ đầu bút bi xuống bàn để thu hút sự chú ý:

“Cảm ơn mọi người đã tham gia đúng giờ, bất chấp lệch múi giờ. Hôm nay là buổi họp đầu năm 2017, mục tiêu của chúng ta là chốt kế hoạch vận hành và mở rộng mạng lưới Cổng Việt trong năm nay. Chúng ta sẽ đi qua ba nội dung lớn: Thứ nhất là báo cáo thực địa từ Tokyo và Melbourne; thứ hai là báo cáo quy trình thông quan và logistics từ đầu cầu Osaka; và thứ ba là kế hoạch phân bổ nguồn lực của văn phòng Sài Gòn hỗ trợ các đầu cầu. Trước tiên, em xin mời anh Tuệ báo cáo tình hình tiêu thụ tại Tokyo sau đợt hàng Tết vừa qua.”

Anh Tuệ đặt cốc trà xuống bàn, kéo tờ giấy ghi chép lại gần camera:

“Báo cáo với cả nhà, lô hàng quà Tết đường hàng không và đường biển đợt rồi tiêu thụ sạch bách. Đặc biệt là mười thùng mứt gừng với trà miền Trung của mình, khách Việt kiều họ chuộng tới mức có người tới tiệm mua một lần năm sáu hộp để đi biếu. Nhờ có cái phiếu nguồn gốc song ngữ dán trên hộp, người ta biết rõ mứt này làm từ gừng ở vùng nào, trà thu hoạch ở đâu, nên họ yên tâm lắm. Khách Nhật vào tiệm mua đồ cũng tò mò đọc thử rồi mua theo. Đợt này anh tính lợi nhuận ròng tăng hơn hai mươi phần trăm so với cùng kỳ năm ngoái khi mình đi hàng lậu.”

Anh Tuệ dừng lại, ghé sát mặt vào màn hình, ánh mắt sáng lên:

“Nhưng cái quan trọng nhất không phải là tiền lời, mà là lòng tin. Đợt rồi mấy nhóm gom hàng xách tay bên này bị cảnh sát Nhật kiểm tra dữ dội vì nghi trốn thuế với hàng không rõ xuất xứ. Riêng tiệm của anh giấy tờ hóa đơn Cổng Việt xuất ra sạch một trăm phần trăm, thuế má đóng đủ. Mấy ông kiểm soát viên vô tiệm coi xong gật gù đi ra, không hạch sách một câu. Anh thấy mặt mình sáng sủa hẳn ra, buôn bán đàng hoàng nó sướng cái thân vậy đó tụi em.”

Chị Linh mỉm cười gật đầu, tay ghi chép nhanh vào sổ:

“Cảm ơn anh Tuệ. Lòng tin pháp lý chính là cái móng để mình xây lâu dài ở Nhật. Tiếp theo, xin mời anh Thành báo cáo tình hình đầu cầu Melbourne và Sydney sau khi mình chuyển hướng phân phối tài liệu giáo dục.”

Thành ở Sydney lật mở một tập hồ sơ trên bàn, giọng nói chững chạc:

“Đầu cầu Úc xin báo cáo. Sau khi có chứng nhận COA và giấy phép nhập khẩu chính thức từ đợt cuối năm, lô sách giáo khoa tiếng Việt và tài liệu giáo dục tiểu học phối hợp với đơn vị tư nhân trong nước đã được thông quan sạch sẽ tại cảng Melbourne. Chúng tôi đã phân phối thử nghiệm cho ba trung tâm dạy tiếng Việt của cộng đồng Việt kiều tại Melbourne và hai trung tâm ở Sydney. Phản hồi cực kỳ tốt. Phụ huynh họ mừng lắm vì từ nay con em họ được học sách in chuẩn, giấy đẹp, không phải dùng mấy bản photocopy lờ mờ như trước.”

Thành đưa lên trước camera một tờ giấy có nhiều chữ ký viết tay:

“Đây là thư cảm ơn chung của đại diện các lớp học tiếng Việt gửi về cho Cổng Việt mình. Họ đề xuất sang quý hai, khi khai giảng học kỳ mới, họ muốn đăng ký mua thêm khoảng năm trăm bộ tài liệu nữa cho các lớp cấp độ cao hơn. Bên cạnh đó, các hội nhóm phụ huynh ở Melbourne cũng hỏi về việc liệu mình có thể hỗ trợ nhập khẩu các loại nhạc cụ dân tộc nhỏ như sáo trúc, đàn tranh mini để họ tổ chức lớp học nhạc cổ truyền cho trẻ em không. Nhu cầu văn hóa ở bên này đang rất lớn nhưng thiếu kênh cung cấp hợp pháp.”

Chị Linh lắng nghe, mắt lấp lánh niềm vui. Chị quay sang Phương Anh:

“Phương Anh thấy rào cản pháp lý của việc nhập nhạc cụ dân tộc vào Úc thế nào? Có vướng kiểm dịch gỗ hay chất liệu tự nhiên không?”

Phương Anh kéo màn hình iPad, đọc nhanh một ghi chú pháp lý đã chuẩn bị sẵn:

“Úc kiểm soát rất ngặt nghèo các sản phẩm từ tre, nứa và gỗ tự nhiên để tránh mối mọt và mầm bệnh ngoại lai. Nếu muốn đi mặt hàng này, các nhà sản xuất trong nước phải qua quy trình xử lý nhiệt hoặc xông trùng tiêu chuẩn, kèm theo chứng nhận kiểm dịch thực vật phytosanitary của cơ quan chức năng Việt Nam cấp riêng cho từng lô. Về mặt thủ tục thì phức tạp hơn sách vở, nhưng nếu mình chuẩn hóa quy trình đóng gói từ kho Bình Thạnh giống như cách ba anh Hoàng đã làm với thẻ màu, chúng ta hoàn toàn có thể xử lý được.”

“Được,” chị Linh gật đầu quyết đoán. “Thành ghi nhận nhu cầu của họ nhé. Chị sẽ bàn với ba ở kho Bình Thạnh và Khoa để tìm các nghệ nhân làm nhạc cụ uy tín ở miền Trung, yêu cầu họ cung cấp mẫu gỗ để mình đi kiểm định trước. Mình làm từ gốc, sạch ngay từ đầu thì hải quan Úc không có lý do gì giữ hàng.”

Hoàng ngồi ở góc tối, nghe từng lời trao đổi giữa chị Linh, Thành và Phương Anh. Một cảm giác yên bình dâng lên trong lòng anh. Anh nhớ lại những ngày đầu tiên chị Linh mới từ Nhật về, gương mặt hao gầy và đầy mặc cảm tự ti của người chị lớn sợ mình trở thành gánh nặng cho đứa em trai đã thành đạt. Nhưng giờ đây, nhìn cách chị điều phối buổi họp, cách chị đặt câu hỏi pháp lý cho Phương Anh, cách chị đưa ra quyết định dựa trên thực tế vận hành — anh biết chị đã thực sự tìm thấy vị trí kiêu hãnh của mình. Mạng lưới này không còn được xây bằng những tính toán lạnh lùng từ trí nhớ tương lai của anh nữa. Nó đang sống bằng mồ hôi của anh Tuệ ở Shin-Okubo, bằng sự kiên nhẫn của cô Diễm ở Yokohama, và bằng lòng tự trọng của chị Linh.

“Bây giờ xin mời Hiếu báo cáo quy trình thông quan tại đầu cầu Osaka,” chị Linh chuyển hướng cuộc họp.

Hiếu ở Osaka mở một file dữ liệu trên màn hình, báo cáo bằng giọng điệu chắc chắn của người làm logistics thực địa:

“Dạ chị Linh. Sau khi mình áp dụng hệ thống hash dữ liệu Nhật ký cân đo và dán mã QR lên từng thùng hàng từ kho Bình Thạnh, quy trình thông quan tại đầu cảng Osaka đã rút ngắn được đáng kể thời gian. Đợt hàng vừa rồi đi qua luồng kiểm tra của hải quan Nhật chỉ mất chưa đầy hai mươi tư giờ, thay vì ba đến bốn ngày như trước. Phía đối tác hải quan họ chỉ cần quét mã QR trên thùng là truy xuất được toàn bộ hình ảnh cân đo, niêm phong và thông tin kiểm tra an ninh tại Tân Sơn Nhất. Độ khớp thông tin là một trăm phần trăm.”

Hiếu dừng lại, mỉm cười nhẹ:

“Hiệu quả của việc này là chi phí lưu kho bãi của mình tại cảng Osaka giảm được mười tám phần trăm. Đây là con số thực tế đóng góp trực tiếp vào lợi nhuận biên của tuyến. Tuy nhiên, tôi có một lưu ý nhỏ: sang mùa xuân, lượng hàng tươi và nông sản khô từ Việt Nam gửi sang Nhật sẽ tăng mạnh. Chúng ta cần nâng cấp công suất bảo quản lạnh tại kho Bình Thạnh để đảm bảo chất lượng hàng trước khi đưa ra sân bay. Nếu nhiệt độ trong kho không ổn định, khi hàng lên container lạnh ở đầu Osaka sẽ rất dễ bị sốc nhiệt làm giảm chất lượng.”

Chị Linh gật đầu ghi chép, rồi quay sang Khoa:

“Khoa thấy sao về đề xuất nâng cấp kho lạnh của Hiếu?”

Khoa đặt cốc cà phê xuống, kéo chiếc bảng vẽ tay của mình lại gần:

“Ý kiến của Hiếu rất đúng lúc. Ba em và chú Tân dưới kho Bình Thạnh cũng đã đo đạc và khảo sát xong khu vực dự kiến lắp đặt kho lạnh mini khoảng mười lăm mét khối. Chi phí lắp đặt và vận hành hệ thống máy lạnh chuẩn hàng không dao động khoảng tám mươi đến một trăm triệu đồng. Ngân sách này nằm trong quỹ dự phòng vận hành quý một mà Phương Anh đã phê duyệt. Nếu chị Linh chốt, em sẽ cho đội thi công bắt tay vào làm ngay tuần sau để kịp đón đợt hàng tháng tư.”

Chị Linh không quay lại nhìn Hoàng để hỏi ý kiến. Chị nhìn thẳng vào Phương Anh:

“Phương Anh kiểm tra lại dòng tiền của Cổng Việt xem việc giải ngân khoản này có ảnh hưởng tới lịch thanh toán tiền bản quyền sách giáo khoa cho đối tác trong nước không?”

Phương Anh lướt nhẹ ngón tay trên màn hình iPad, đối chiếu số liệu tài chính thời gian thực:

“Dòng tiền của mình hiện tại rất sạch. Sau khi trừ đi các khoản hoàn tiền và bồi hoàn cho khách từ đợt sự cố Tết năm ngoái, số dư khả dụng của Cổng Việt vẫn duy trì ở mức an toàn. Việc giải ngân một trăm triệu cho kho lạnh Bình Thạnh hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát và không ảnh hưởng tới bất kỳ nghĩa vụ thanh toán nào khác. Tôi đồng ý duyệt khoản này.”

“Quyết định vậy đi,” chị Linh gõ nhẹ bút xuống bàn. “Khoa liên hệ bên thi công lắp đặt kho lạnh. Yêu cầu họ cam kết tiêu chuẩn kỹ thuật kiểm soát nhiệt độ tự động và có nhật ký ghi chép số hóa để Minh tích hợp vào bảng đối soát chung. Hiếu ở Osaka chuẩn bị sẵn sàng đầu nhận hàng tương ứng nhé.”

“Đã rõ, chị Linh,” Khoa và Hiếu đồng thanh đáp.

Hoàng ngồi lặng lẽ trong góc tối, nhìn chiếc máy điều hòa phả ra luồng hơi mát nhẹ. Anh cảm nhận được nhịp đập tự nhiên của một tổ chức đang vận hành. Không có cảnh báo đỏ, không có giao diện ảo nhấp nháy thúc giục, nhưng mỗi câu chữ, mỗi quyết định đưa ra trong phòng họp này đều có sức nặng vật chất của nó. Nó được xây dựng từ những bài học đắt giá của những lần dừng chuyến hàng, những lần thức trắng đêm chữa cháy lỗi hệ thống, và sự va chạm sòng phẳng giữa những con người thật.

Buổi họp kéo dài thêm hơn một tiếng đồng hồ nữa để giải quyết các chi tiết nhỏ về lịch trình bay của VietStar Cargo và việc chuẩn hóa từ điển hàng hóa song ngữ cho các nhà cung cấp mới ở miền Trung. Chị Linh điều hành toàn bộ quá trình một cách trôi chảy, thỉnh thoảng dừng lại để lắng nghe ý kiến phản biện của Phương Anh hay giải thích thực tế của Khoa.

Khi nội dung cuối cùng của biên bản họp được Phương Anh cập nhật xong lên hệ thống chung, màn hình Zoom hiển thị các đầu cầu bắt đầu chuẩn bị tắt kết nối.

Anh Tuệ ở Tokyo, lúc này đã chuẩn bị dọn dẹp để mở cửa tiệm đón khách chiều, nhìn vào góc sau của màn hình. Anh nheo nheo mắt nhìn qua gọng kính lão, thấy bóng dáng Hoàng ngồi im lặng ở góc tường từ đầu buổi họp đến giờ không hề lên tiếng.

“Ơ, CEO Hoàng hôm nay ngồi im ru vậy em?” Anh Tuệ cười lớn, giọng vang qua loa phòng họp. “Hết Tết rồi mà không phát biểu chỉ đạo đầu năm gì cho anh em ở xa nghe lấy khí thế à con?”

Cả phòng họp Tô Hiến Thành bỗng im lặng lại. Chị Linh, Phương Anh và Khoa đồng loạt quay đầu lại nhìn Hoàng. Những nụ cười vui vẻ của buổi họp cuối năm vẫn còn đọng lại trên gương mặt họ, nhưng trong ánh mắt mỗi người đều có một sự tò mò lặng lẽ. Họ đã quen với một Nguyễn Minh Hoàng luôn đứng ở đầu bàn họp, đưa ra những quyết định sắc bén, những dự báo hoàn hảo và kiểm soát từng chi tiết nhỏ của hệ thống.

Hoàng khẽ đẩy chiếc ghế tựa ra sau, bước ra khỏi khoảng tối của góc tường. Anh bước đi chậm rãi, mái tóc xoăn nhẹ hơi bồng bềnh dưới luồng gió từ máy lạnh. Anh dừng lại ngay sau lưng ghế của chị Linh, đặt hai bàn tay nhẹ nhàng lên thành ghế của chị.

Nhìn vào camera kết nối với ba đầu cầu quốc tế, Hoàng mỉm cười, một nụ cười bình thản và nhẹ nhõm nhất mà anh Tuệ từng thấy trên gương mặt đứa cháu họ xa của mình kể từ ngày Cổng Việt được nhen nhóm.

Hoàng lắc đầu nhẹ, giọng anh trầm ấm vang lên:

“Dạ không anh Tuệ. Chị Linh quyết là em ký.”

Màn hình Zoom im lặng mất một giây, rồi tiếng cười khà khà của anh Tuệ lại vang lên sảng khoái.

“Được! Nói câu đó nghe được đó con! Vậy mới đúng chất người nhà mình chứ.”

Chị Linh hơi nghiêng đầu nhìn lên đứa em trai đang đứng sau lưng mình. Chị không nói gì, nhưng bàn tay chị khẽ siết chặt chiếc bút bi trên bàn, khóe môi chị cong lên một nét cười ấm áp đầy kiêu hãnh. Hoàng nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của mình và chị Linh trên mặt kính của chiếc TV màn hình lớn. Hai bóng người đứng cạnh nhau, không có lớp giao diện bạc nào ngăn cách, chỉ có ánh nắng đầu năm rực rỡ từ cửa sổ rọi vào, làm sáng bừng cả căn phòng nhỏ.

Buổi họp kết thúc trong những lời chào tạm biệt vui vẻ giữa các đầu cầu. Khi màn hình Zoom tối dần rồi tắt hẳn, Phương Anh gập chiếc iPad lại, đứng dậy vươn vai một cái thật dài.

“Kế hoạch năm mới xong rồi đó,” cô nói, nhìn sang Hoàng với ánh mắt tinh nghịch. “CEO lo chuẩn bị bút mực để ký mấy cái hợp đồng thi công kho lạnh với giấy tờ nhập khẩu Úc nha. Tôi gửi qua email hết rồi đó.”

“Biết rồi,” Hoàng cười, bước ra phía cửa sổ lớn nhìn xuống con đường Tô Hiến Thành bên dưới. “Từ mai cứ theo quy trình mà chạy thôi.”

Gió xuân vẫn thổi lồng lộng qua các mái nhà tôn xám của Sài Gòn, cuốn theo những vệt khói xám mỏng manh bay vút lên bầu trời xanh ngắt. Hoàng đứng đó, hai tay đút túi quần, cảm nhận mặt đất dưới chân mình thật vững chãi. Anh không còn là người biết trước tương lai, nhưng tối nay, khi nhìn thấy đường bay của Cổng Việt đã mở ra từ những bàn tay thật của đồng đội, anh biết mình đã thực sự có được câu trả lời cho câu hỏi mình làm vì ai. Và câu trả lời đó, không cần Hệ thống nào đo lường, vẫn đang cháy sáng một cách lặng lẽ trong từng góc kho, từng tiệm hàng xa xứ. Gió thổi mạnh hơn, mang theo mùi của đất, của nắng và của một năm mới bắt đầu.