Chương 12 — Chiếc xe của bác Tư
Chương 12 — Chiếc xe của bác Tư
Chiếc xe của bác Tư
Nắng trưa rát bỏng rút dần qua mép mái tôn, để lại khoảng sân đất loang lổ bóng dâm bụt. Hơi nóng từ mặt đường đá dăm phả vào hai lỗ mũi tôi mùi khét nồng của bùn cống rãnh ngai ngái. Tôi nằm duỗi bốn chân trên bậc thềm xi măng nứt nẻ, gác cằm lên mu bàn chân trước nghỉ ngơi sau buổi trưa chia vệt nắng với con Vện cụt tai. Chỏm đuôi gãy khúc thỉnh thoảng đập một nhịp đuổi lũ ruồi nhặng vo ve.
Trong nhà, tiếng chổi đót của mẹ quẹt soàn soạt trên nền đất, kéo theo mùi bụi khô bay là là. Cậu út ngồi bệt ở ngưỡng cửa, hai đầu gối củ lạc nhô cao, bận rộn dùng que kem gọt đẽo mẩu củi nhỏ. Thỉnh thoảng, đứa bạn nhỏ lại đưa ngón tay trỏ đen nhẻm vỗ nhẹ xuống thềm hai tiếng tặc tặc quen thuộc.
Một độ rung mơ hồ từ lòng đất truyền thẳng qua xương hàm tôi.
Tôi dựng đứng hai chóp tai, hếch mũi đón lấy luồng gió từ đầu con dốc đá dăm. Nhịp điệu bước chân này rất lạ, nặng nề và lệch vẹo, hoàn toàn khác với tiếng gót chân của bố hay tiếng dép lê của mẹ.
Thịch… khập… thịch… khập…
Một bên giẫm xuống nặng trịch như gỗ lim nện vào đá, bên kia lướt qua sỏi nhỏ lạo xạo nhẹ hẫng. Đi liền với bước chân ấy là tiếng cọt kẹt dai dẳng của trục sắt thiếu mỡ nghiến vào bánh xe cao su, cùng tiếng kim loại va đập lẻng xẻng. Hàng trăm mảnh sắt vụn, ống bơ rỗng và khung xe đạp mục nát đang cọ xát trong thùng gỗ.
Một luồng mùi đặc quánh ùa tới. Mùi rỉ đồng chua loét, giấy báo ẩm mốc lưu cữu qua mùa mưa dột, và nồng nhất là khói thuốc lá sâu kèn cuốn vụng khét lẹt phả ra từng đợt ngắn.
Bản năng giữ nhà khiến lớp lông bờm dọc sống lưng tôi dựng đứng. Tôi chống bốn chân đứng bật dậy, thu ngắn cổ, mắt găm qua kẽ lá dâm bụt. Cỗ xe cải tiến kềnh càng chất ngất ngưởng bao tải dứa và khung sắt trơ trọi chầm chậm trườn qua khúc quanh. Kéo cỗ xe nặng trịch là người đàn ông lưng còng rạp, mặc chiếc áo cối thủng lỗ chỗ, một bên chân teo tóp vung thành vòng cung sau mỗi bước giẫm.
“Ai… đồng nát… sắt vụn… chai lọ hỏng bán đê…”
Tiếng rao khàn đặc dội vào vách tường đất. Tôi chồm hai chân trước lên bậu đất gồ ghề, cổ họng cuộn lên tiếng gầm gừ đục ngầu, hàm răng nhọn nhe ra cảnh giác.
Bác Tư hạ càng xe xuống đá dăm nghe cộp một tiếng khô khốc. Đống xoong nồi bên trên va nhau hồi lâu mới lặng. Bác rút chiếc khăn cáu bẩn lau mồ hôi trên trán chằng chịt nếp nhăn, nhìn thẳng vào tôi qua kẽ lá. Bác không nhặt đá dọa ném, chỉ cất giọng khàn khè:
“Chà, con chó nhà ai cứng cáp thế này.”
Mẹ tôi nghe tiếng rao liền buông chổi, ôm chiếc bao tải rách đựng mớ chai lọ tích cóp dưới gầm chạn bước vội ra sân:
“Bác Tư ghé xem hộ tôi mớ ve chai với cái chậu nhôm thủng này xem được mấy đồng. Mi! Im mồm, vào gầm chõng nằm!”
Cậu út buông mẩu củi, chạy ùa ra rào đón bác. Đứa bạn nhỏ vỗ nhẹ vào lưng tôi trấn an: “Bác Tư! Hôm nay bác mua được nhiều đồ thế!”
“Ừ, vừa vét được đống phế liệu bên bến xà lan.” Bác Tư cười hiền, tháo chiếc cân lò xo rỉ sét bước vào sân.
Tôi lùi lại hai bước, bốn móng vuốt bấu chặt xuống nền đất. Tiếng nói quen thuộc của mẹ và nụ cười của bạn nhỏ mách bảo người này không mang lại hiểm nguy. Bác Tư ngồi xổm, chân thọt duỗi sang một bên, đôi bàn tay to bè bám đầy mạt sắt đen sì cẩn thận lật giở từng món đồ.
Tôi rón rén bước lại gần, hạ thấp đầu khịt mũi hít thở luồng không khí quanh người bác. Dưới lớp mùi rỉ sét tanh nồng, tôi nhận ra mùi mồ hôi mặn chát của người lam lũ, mùi cơm nguội gói lá chuối khô, cùng chút dầu gió cù là bôi trên khớp gối sưng phù. Không có mùi chua hắc của giận dữ, cũng không có mùi tanh chết chóc của thòng lọng bắt trộm.
“Được bốn nghìn năm trăm đồng, cô Bảy à.” Bác Tư móc túi vải, vuốt phẳng mấy tờ bạc lẻ đưa cho mẹ. Mẹ nhận tiền mừng rỡ, tính chuyện mua mớ rau muống bữa chiều.
Bác buộc túm mớ đồ phế liệu chuyển ra ngoài xe. Tôi lẳng lặng bám theo sau gót chân đứa bạn nhỏ ra tận ngõ. Xong việc, bác Tư vịn càng xe thở dốc, lồng ngực khò khè như ống bễ lò rèn. Bác cúi đầu, bắt gặp ánh mắt tôi đang ngước nhìn. Lông gáy tôi đã xẹp xuống, đuôi buông lỏng tự nhiên.
“Mày khôn đấy, biết ngửi người lành người dữ.” Bác lẩm bẩm, rồi từ từ ngồi thụp xuống bên vệ đường.
Bác thò tay vào chiếc bị cói cũ, rút ra một vật nhỏ bọc trong mảnh giấy báo. Đó là mẩu bánh mì khô quắt queo, rìa bánh cháy xém vàng sẫm. Bác bẻ đôi mẩu bánh giòn tan nghe một tiếng rắc, rồi ngửa lòng bàn tay chai sạn đầy mạt sắt chìa ra trước mõm tôi:
“Ăn đi con, răng cỏ còn sắc.”
Tôi ngửi thấy mùi bột mì nướng thơm ngậy, ngọt ngào và mộc mạc. Bàn tay người thợ già kiên nhẫn mở rộng, không hề rụt lại hay mang bẫy rập. Tôi bước tới, thò đầu mũi ươn ướt chạm vào mép ngón tay thô ráp như vỏ xà cừ cổ thụ. Tôi kẹp lấy mẩu bánh, lùi lại nhai ngấu nghiến. Vụn bánh giòn rụm tan ra trong miệng, giải phóng vị ngọt bùi của lúa mì nướng lửa, xua tan cơn cồn cào trong bụng.
Bác Tư cười khùng khục, vươn tay xoa nhẹ lên chỏm tai tôi. Bàn tay ráp cứng trượt trên lớp lông tơ êm ái, mang lại một hơi ấm vụng về nhưng bình yên kỳ lạ.
Bác đứng dậy, nắm lấy hai càng xe, dồn sức đẩy đống phế liệu lắc lư khuất dần sau rặng xà cừ đầu dốc. Tiếng cọt kẹt cùng nhịp bước thịch khập mờ dần trong lòng đất.
Mùi sắt rỉ mục nát lẫn mùi thuốc lá sâu kèn biến thành dấu ấn an toàn mới trong bản đồ ký ức mùi vị của Mi. Tôi quay lại thềm cửa nứt nẻ, nơi đứa bạn nhỏ đang ngồi đợi, ngoáy tít đuôi rồi nằm phịch xuống bên bàn chân trần ấm áp đón hoàng hôn buông.