Chương 13 — Chân kiềng gánh bún
Chương 13 — Chân kiềng gánh bún
Chân kiềng gánh bún
Cái oi nồng chiều muộn tháng sáu như chiếc chăn bông sũng nước đè nghẹt xóm thợ. Gió bến sông tắt ngấm. Mặt đất nứt toác phả lên hơi nóng hầm hập của đá dăm và rác rưởi ứ đọng mé cống.
Tôi nằm bẹp bên thềm xi măng, thè lưỡi thở dốc. Thằng bé ngồi ở bậu cửa, áo may ô thủng hai lỗ ướt đầm mồ hôi dính sát xương bả vai. Nó phe phẩy quạt nan cho tôi, nhưng luồng gió chỉ rát bỏng như hơi lò than. Thỉnh thoảng, nó lại ngóng về rặng xà cừ đầu dốc đá dăm, nơi mẹ thường quẩy gánh bún về mỗi cữ chập tối.
Một luồng khí lạnh lùa qua cổ tôi. Lông tơ dựng đứng. Tôi chống bốn chân đứng dậy, hếch mũi vào khoảng không. Bầu trời sẫm lại rất nhanh. Từ bờ sông, mây đen cuồn cuộn trườn tới che kín rặng cây. Áp suất tụt xuống ép mạnh vào màng nhĩ tôi cảm giác nhức buốt. Mùi hơi nước quyện mùi đất khô khát xộc thẳng vào mũi. Đó là mùi dông lớn đầu mùa.
Đoàng!
Vệt chớp xé toang mây đen. Tiếng sấm rền dội ngược lên bốn móng vuốt, rung chuyển tủy sống. Chỏm đuôi gãy khúc của tôi giật thót, vết sẹo cũ buốt nhói. Bản năng xui khiến tôi lủi vào gầm chõng tre trốn sét.
Nhưng gió rít qua rào dâm bụt. Cát bụi cuộn thành lốc nhỏ quật vào liếp cửa. Thằng bé hoảng hốt bám chặt then gỗ:
“Mẹ… Mẹ chưa về. Gánh bún của mẹ ngoài dốc xà cừ…”
Trong tiếng gió gầm, tôi căng tai hết cỡ, áp sát mũi xuống khe đất nện sát chân tường. Giữa muôn vàn tạp âm của mái tôn va đập, tôi bắt được mùi hương quen thuộc: mùi mắm tôm nồng gắt chưng mỡ hành, mùi nước dùng đun than củi oi khói, lẫn mùi bùn non ngai ngái.
Đó là gánh bún của mẹ.
Đi cùng mùi hương ấy là nhịp bước gấp gáp, chao đảo trên nền đá dăm. Tiếng đòn gánh tre kẽo kẹt nghiến vào khớp vai nghe rát buốt. Mẹ đang gồng mình chống chọi cơn gió ngược từ bến sông.
Nỗi sợ sấm sét tan biến. Tôi phóng qua vạt sân đất, lách qua cổng sắt rỉ lao vút ra ngõ.
“Mi! Quay lại!” Thằng bé gào với theo, nhưng bóng tôi đã chìm vào màn bụi mịt mờ.
Gió dông thốc vào mặt rát rúa. Bốn chân tôi guồng hết tốc lực trên đá dăm. Con dốc ra bến sông vắng tanh. Những hạt mưa đầu tiên rơi lộp bộp xuống mặt đường khô khốc, bắn lên mùi tanh nồng của đất cát nung nắng.
Lên nửa dốc, tôi nhìn thấy mẹ.
Bóng người gầy guộc oằn mình dưới đôi quang gánh. Một bên thúng là chiếc nồi gang to tướng còn chút nước bún nóng, chiếc kiềng sắt ba chân đen sì lủng lẳng bên hông; bên kia là chồng bát đĩa sứt mẻ, hũ mắm tôm và mớ rau thơm héo úa. Cả gia tài mưu sinh oằn trên vai áo nâu sờn rách.
Gió giật điên cuồng, cuốn bay tấm ni lông che mưa trên miệng thúng.
“Trời ơi là trời!” Tiếng mẹ kêu thất thanh nghẹn lại trong cổ họng.
Cơn gió xoáy bạt nghiêng chiếc thúng đựng nồi gang. Đòn gánh cong vút như sắp gãy đôi. Mẹ trượt chân trên đá dăm phủ rêu ướt, quỵ một bên gối xuống bùn lầy.
Chiếc kiềng sắt va mạnh vào thành nồi gang kêu leng keng chói tai. Đôi quang gánh chòng chành, chiếc nồi gang chực lộn nhào xuống rãnh nước đen ngòm cạnh đường. Nếu nồi gang và mớ bát đĩa mượn nợ vỡ vụn, ngày mai gia đình sẽ mất trắng miếng ăn.
Tôi phóng qua vũng nước bẩn ngập đến ức, chồm tới chân mẹ. Răng tôi cắn chặt mép bao dứa lót đáy thúng, bốn chân bấu ghì từng móng xuống đá lầy lội, dồn toàn lực kéo ngược chiều gió bạt. Thân tôi căng cứng như sợi dây chão. Mép bao dứa đẫm nước mắm tôm cọ rát chân răng, nhưng tôi quyết không buông.
Chiếc thúng nặng trịch khựng lại một nhịp, không bị lật nhào xuống rãnh.
Mẹ thở dốc, quệt nước mắt hòa cùng bụi cát lem luốc trên má:
“Mi! Mày… con chó này!”
Bàn tay run rẩy bám chặt đòn gánh, mẹ khó nhọc gượng đứng lên. Chiếc kiềng sắt lại va lách cách. Mẹ cắn môi nâng quang gánh khỏi bùn lầy.
Đoàng!
Sấm sét lại giáng xuống ngọn xà cừ đầu dốc, chớp trắng lóa xé rách màn trời. Toàn thân tôi run lên vì chấn động, nhưng tôi không lùi bước. Tôi buông mép bao dứa, tì sát mạn sườn ấm nóng vào bắp chân run rẩy của mẹ. Tôi cất hai tiếng sủa trầm đục từ đáy họng, ngước nhìn mẹ rồi bước giật lùi dẫn lối.
Bùn đất nhớp nháp níu chặt chân mẹ. Tôi đi sát mé trong lòng đường, dùng thân mình dò từng mô đá cứng vững chãi, khịt mũi rẽ lối qua những vũng nước cuồn cuộn chảy xiết. Mẹ nương theo nhịp bước của tôi, từng bước vượt qua con dốc lầy lội.
“Cố lên con… ráng lên con…” Mẹ lẩm bẩm trong miệng, chẳng rõ tự dặn lòng hay đang nói với tôi.
Cơn mưa rào thực sự ập xuống khi chúng tôi chạm bờ rào dâm bụt trước ngõ. Nước tuôn xối xả quất rát vào sống lưng tôi, dìm cả xóm thợ vào màu trắng xóa.
Cánh cổng sắt mở toang. Thằng bé nép dưới hiên nhào ra sân, vừa khóc vừa đỡ đầu đòn gánh:
“Mẹ ơi! Mẹ có sao không mẹ!”
Mẹ bước xiêu vẹo vào hiên, hạ đôi quang gánh xuống thềm xi măng. Tiếng chiếc kiềng sắt chạm nền gạch kêu cộp một tiếng chắc nịch, an toàn và nguyên vẹn.
Bao nhiêu sức lực rút cạn khỏi thân hình gầy mòn. Mẹ ngồi phịch xuống thềm hiên, dựa lưng vào vách đất ẩm, thở dốc từng hơi ngắt quãng. Hai bàn tay mẹ run rẩy, lòng bàn chân ứa máu vì đá dăm cứa rách. Mưa dông dội rầm rầm lên mái tôn cũ, nước chảy xối xả xuống khoảng sân đất nát ngấu.
Tôi đứng bên cạnh mẹ, lông sũng nước dính bết vào da thịt, bốn chân bê bết bùn non lạnh ngắt. Tôi đưa lưỡi ấm liếm nhẹ lên vết thương rướm máu nơi mắt cá chân của bà.
Mẹ cúi xuống nhìn tôi. Đôi bàn tay nứt nẻ thô ráp chầm chậm vươn ra. Lần đầu tiên từ ngày tôi bước chân vào nhà này, mẹ không hề quát mắng vì lông rụng hay bùn đất bẩn thỉu. Bàn tay mẹ ôm ghì lấy cổ tôi, kéo tôi sát vào vòm ngực gầy nồng nặc mùi mồ hôi và mắm tôm quen thuộc.
Một giọt nước ấm nóng rơi xuống đầu tôi, hòa tan vào những giọt mưa lạnh buốt. Mẹ nấc nghẹn một tiếng trong cổ họng, rồi đưa tay xoa hai bên tai tôi:
“Tổ sư mày… con chó khôn… Không có mày thì mẹ con tao mất trắng bữa nay rồi…”
Thằng bé ngồi thụp bên cạnh, ôm lấy vai mẹ và quàng tay qua lưng tôi. Ba bóng hình nép sát vào nhau dưới mái hiên dột, lắng nghe tiếng mưa dông quất liên hồi trên mái tôn rách. Chiếc kiềng sắt ba chân đen sì nằm lặng im bên thềm cửa, vững chãi như một chiếc neo giữ lại chút hơi ấm mong manh của mái nhà nghèo giữa giông bão cuộc đời.