Chương 31 — Chiếc vali mốc

Chương 31 — Chiếc vali mốc

Nắng chiều vàng vọt rọi chéo qua liếp nứa rách, quét vệt nhợt nhạt lên sàn đất nện.

Mặt thềm xi măng lạnh tanh. Những mảng sơn đen khô quắt lại, sần sùi bốc mùi hóa chất khen khét mỗi khi gió thổi thốc vào. Chiếc nồi đồng móp méo nằm nơi góc chạn rỗng, vành sứt còn dính tro xám. Căn nhà vắng hẳn tiếng kim khí leng keng của chiếc xe đạp Thống Nhất và mùi thuốc lào của bố. Chỉ còn mảng tường trơ trọi cùng hai vết lõm chân chống sâu hoắm nơi góc buồng.

Mẹ cựa mình trên tấm chõng tre mục.

Sau cơn sốt li bì từ sáng, mẹ bắt đầu hồi tỉnh. Mùi mồ hôi chua nồng thoát ra từ lớp chăn bông rách át mùi dầu hỏa cạn đáy. Tiếng khớp xương mẹ kêu rắc rắc khi mẹ chống tay gượng ngồi dậy, dát tre kẽo kẹt từng hồi.

Thằng bé đang ngồi bên bậu cửa, gọt củ khoai sùng còn sót lại bằng nắp hộp sữa cùn gỉ. Nghe tiếng động, nó buông mẩu sắt, chạy bổ vào buồng:

“Mẹ… Mẹ đỡ sốt chưa mẹ?”

Mẹ ngồi tựa lưng vào vách đất, hai mắt hõm sâu như hốc than lụi. Gương mặt mẹ vàng bệch, đôi môi nứt toác rướm máu khô. Mẹ đưa bàn tay gầy sờ lên trán đứa con, chạm vào vết rách đóng vảy nơi chân tóc nó:

“Đau không con?” Giọng mẹ khàn đặc.

Thằng bé lắc đầu:

“Con không đau. Con nấu cháo cho mẹ rồi đấy. Nồi đồng móp một bên nhưng con chùi sạch rồi, mẹ ăn nhé?”

Mẹ nhìn sang chiếc bát sứt trên bàn mục, nơi nước cháo loãng khét đáy đã nguội ngắt. Khóe mắt mẹ đỏ rực, nếp nhăn co rúm trong cơn nghẹn câm lặng. Mẹ kéo ghì vai con vào ngực.

Tôi bước vào buồng tối, đặt cằm lên mép chõng, liếm bàn chân lạnh ngắt của mẹ. Tay mẹ buông con trai, lướt qua chỏm tai tôi, nặng trịch nhọc nhằn.

Ngoài ngõ đá dăm, có tiếng bước chân lẹp xẹp tiến lại gần. Bước chân ngắn, kéo lê dép mòn qua vũng nước. Mùi dầu gió xanh cay nồng xộc qua rào dâm bụt, quyện mùi bụi đường xe khách và mùi quần áo ẩm.

Tôi gầm gừ một tiếng nghẹn trong họng rồi lao ra thềm xi măng.

Cổng sắt hoen rỉ rên lên cót két. Người đàn bà đậm đà đội nón lá rách bước qua vệt sơn đen. Đó là bà Thắm buôn chuyến xóm dưới, tay xách chiếc làn nhựa đỏ bạc phếch:

“Cô Bảy ơi, có nhà không?”

Thấy tôi đứng chặn cửa, bà Thắm khựng lại:

“Khỉ gió, con chó dữ thế. Thôi nào Mi, tao đây mà.”

Thằng bé bước ra hiên, xoa lưng tôi:

“Bác Thắm… Mẹ cháu vừa dứt sốt.”

Bà Thắm bước vào nhà, nhìn quanh gian nhà rỗng tuếch rồi ngồi thụp xuống ghế đẩu:

“Khổ thế này sống sao nổi cô Bảy. Thằng Bảy trốn nợ chạy mất tích rồi, bọn bến bãi lùng sục rát lắm. Cô ở lại đây chúng nó đốt nhà thật đấy.”

Mẹ thõng chân xuống đất, giọng khào khào:

“Chị Thắm… Xe bán rồi, gạo hết sạch, em biết chui vào đâu…”

Bà Thắm hạ giọng nhưng tiếng nện đanh thép:

“Bốn giờ sáng mai có xe tải bãi đá ghé đón ở đầu cầu sắt. Người ta gom người vào Nghệ An, Hà Tĩnh gánh gạch sàng cát. Nặng nhọc trâu bò thật, nhưng trả tiền tươi theo tuần, bao ăn ở lán bạt. Làm vài tháng có tiền gửi về trả nợ, chứ nằm đây chờ chết à?”

Căn buồng ngột ngạt buốt giá. Thằng bé đứng sững bên cột xoan nứt toác, hai tay bấu chặt gấu áo thủng, mắt trân trân nhìn mẹ.

“Thế còn… thằng Thành?” Mẹ run rẩy hỏi. “Nó còn bé quá, mang theo sao được?”

Bà Thắm xua tay:

“Mang thế nào được! Toàn phu đá bặm trợn. Cô gửi nó sang nhà ông bác họ xóm trên vài tháng. Bên ấy làm mộc đông con nhưng là máu mủ, gửi ít tiền ăn, bảo nó quét dọn xưởng bưng nước đỡ đần thì ai nỡ đuổi. Bao giờ êm chuyện tính tiếp.”

“Bác họ…” Mẹ nghẹn đắng.

Môi thằng bé mím chặt trắng bệch. Nó nhớ người bác họ từng xua đuổi mẹ con nó mỗi lần vay gạo, từng mắng bố nó là đồ mạt rệp.

“Tôi không sang xóm trên đâu…” Thằng bé thì thào.

“Thành!” Mẹ nghiêm giọng. “Không sang đấy thì con ở với ai?”

“Con ở trông nhà!” Thằng bé gào lên, nước mắt vỡ òa trên má lem tro than. “Con với con Mi ở nhà! Con đi nhặt củi, nhặt ve chai kiếm cơm. Mẹ đừng đi mà…”

Nó quỳ sụp mép chõng ôm chặt đầu gối mẹ khóc nấc. Tôi rúc mõm vào nách nó, hếch mũi vào bàn tay run rẩy. Nước mắt mặn chát rớt xuống lông má tôi cay buốt.

Bà Thắm thở dài:

“Khóc chẳng ích gì đâu. Vài ngày nữa chúng nó lại đến tạt sơn thì sống sao nổi. Tính nhanh lên, mai xe chạy sớm đấy.”

Mẹ nhắm nghiền mắt, một giọt nước mắt đục ngầu lăn xuống đỉnh đầu con trai:

“Nín đi con… Mẹ đi làm trả nợ rồi mẹ về. Mẹ không bỏ con đâu…”

Mẹ vịn cột gượng dậy, ngước nhìn lên xà tre bám bồ hóng. Nơi góc tối giáp mái lá có một vật đen sì phủ lớp bụi thời gian xám xịt: chiếc vali vải bạt cáu bẩn nằm đó suốt bao năm.

“Hạ cái vali bạt xuống đi,” bà Thắm giục. “Gom vài bộ áo thô với quần đũi đen, có ủng thì nhét vào.”

Mẹ run rẩy bước lên ghế đẩu mục nhưng chân không gượng nổi.

“Để con…” Thằng bé quệt nước mắt.

Nó trèo lên ghế đẩu, hai cánh tay gầy vươn cao về phía xà tre, ngón tay bám vào quai bạt giật mạnh.

Rột… xoẹt!

Vải mục cọ vào tre khô khốc. Bụi bặm, mạng nhện và vụn tre mục rơi lả tả như mưa tro, phủ đầy tóc và vai thằng bé. Mùi ẩm mốc bốc lên nồng nặc. Chiếc vali trượt khỏi xà nhà, để lại trên trần một khoảng trống hoác lạnh lẽo.

“Đỡ lấy mẹ ơi!”

Chiếc vali tuột khỏi tay, rơi uỵch xuống mặt phản gỗ.

Bịch!

Mặt phản rung bần bật, bụi bốc tung mờ ảo dưới ánh đèn le lói.

Tôi bước lại mép phản, rụt rè thò mũi hít một hơi vào góc vải rách.

Mùi ẩm mốc chua loét xộc thẳng vào mũi tôi. Mùi phân chuột khô, mùi băng phiến nồng cay và mùi mồ hôi muối cũ kỹ đọng lại từ những chuyến đi xa thời trước. Chiếc khóa sắt rỉ đỏ quạch, mép vải rách toạc lòi lớp lót xám xịt.

Bà Thắm bước tới kéo xoẹt một đường dài, miệng vali há ngoác ra như hốc tối nuốt trọn ánh sáng.

Mẹ đứng chết lặng nhìn khoảng trống trơ trọi trên xà tre. Thằng bé đứng sững bên cạnh, mắt trân trân nhìn đáy vali mốc, nấc nghẹn từng cơn.

Gió ngõ lùa qua liếp nứa cuốn bụi xám bay lơ lửng. Tôi ngồi nép vào cẳng chân trần run rẩy của bạn nhỏ. Mùi ẩm mốc và hơi lạnh buốt giá từ chiếc vali bạt đặc quánh lại, báo hiệu ngưỡng cửa ly tán tàn nhẫn nhất sắp sửa giáng xuống căn nhà nhỏ.