Chương 38 — Bánh mì mốc của bác Tư

Chương 38 — Bánh mì mốc của bác Tư

Sương muối giăng trắng đục trên những ngọn lá chuối xơ xác ngoài bờ giậu.

Hơi buốt từ lòng đất rỉ qua kẽ nứt của thềm cửa, ngấm vào bụng tôi lạnh ngắt. Tôi mở mắt, lớp ghèn khô xát vào con ngươi cay xè. Cả thân mình cứng đờ như khúc gỗ mục. Mỗi lần co duỗi chân, khớp bả vai lại dội lên từng cơn đau buốt.

Bốn bàn chân tôi rách toạc sau cuộc rượt đuổi hôm qua giờ đã khô quánh. Đệm thịt bết chặt vào cát bụi và máu đen, dính chặt xuống mặt đá rêu xanh. Tôi nhấc chân trước lên, vảy máu vừa se miệng lại nứt toác, rỉ ra vệt dịch mằn mặn.

Cơn đói cào xé ruột gan biến thành những nhát cắn buốt nhói trong bụng lép kẹp. Bụng tôi dính chặt vào xương sống, trơ ra từng dải sườn dưới lớp lông xơ xác. Cuống họng khô ran như ngậm tro bếp. Tôi há mõm, liếm mài miệt vào vệt tương bần đen sẫm nơi chân thềm. Vệt tương từ ngày mâm cơm vỡ vẫn bám chặt kẽ nứt. Đầu lưỡi cọ vào đá ráp buốt, chỉ thấy vị đắng chát của bụi than. Nước dãi chua ngắt ứa ra, rớt tõm xuống nền lạnh.

Căn nhà sau lưng tôi im lìm rợn ngợp.

Gió bấc lùa qua khe liếp nứa, cuốn tung đám lá khô trên sàn. Không có tiếng chân mẹ lẹp kẹp đôi guốc gỗ dậy nhóm bếp. Không tiếng lửa reo, chẳng có mùi mắm tôm quen thuộc từ gian chái. Chiếc chõng tre trơ nẹp nứa đứng lặng giữa ánh sáng nhợt nhạt. Căn nhà chỉ còn mùi tro tàn nguội ngắt và tiếng chuột chạy trên xà tre.

Khát nước làm cổ họng nóng rát. Tôi lết xuống sân, đến bên bờ chum nước cạnh gốc cau. Chiếc chum nứt toác chỉ còn đọng vũng nước cạn đầy lá mục. Tôi nhoài cổ uống vài ngụm. Vị bùn tanh tràn qua cổ họng làm dạ dày co thắt, khiến tôi ho sù sụ rồi nôn ra búng bọt mép vàng đục.

Tôi lảo đảo trở lại thềm hiên, nằm bẹp xuống vệt nắng vừa len qua kẽ chuối. Tôi thu bốn chân vào bụng, giấu chiếc mõm khô khốc vào móng trước, mắt dán chặt vào cánh cổng sắt quấn xích. Tôi nằm chờ. Dù đói cào ruột, dù chân rỉ máu, tôi vẫn không thể rời khỏi đây.

Đột nhiên, từ phía đầu dốc ngoài ngõ, rung chấn quen thuộc truyền qua mặt đất lạnh buốt vào tai tôi.

Két… kẽo kẹt…

Tiếng kim loại cọ sát khô khốc, kèm theo tiếng lốp cao su nghiến đá dăm và nhịp bước chân một bên nặng một bên nhẹ: cộp… phập… cộp… phập…

Tai tôi dựng lên. Chiếc mũi nhọn hếch về phía rào. Gió ngược thổi tạt vào sân, mang theo mùi sắt vụn rỉ sét, bìa carton ẩm mốc và khói thuốc sâu kèn nồng nặc.

Bác Tư phế liệu.

Cỗ xe dừng lại trước cổng. Bác Tư đứng lặng nhìn sợi xích to bản quấn chặt hai cánh sắt rỉ cùng ổ khóa xám xịt. Tiếng thở khò khè của ông già vang lên giữa ngõ vắng:

“Có ai ở nhà không?”

Không tiếng người đáp lại. Bác Tư nhìn qua chấn song vào sân, thấy chiếc hộp kỉ vật vỡ nát dưới đất, rồi dừng lại nơi thềm cửa. Tôi nằm co quắp ở đó, trơ xương sườn, mắt ươn ướt ngước nhìn ông.

Bác Tư giật mình, đôi lông mày bạc trắng nhíu chặt:

“Ủa… con Vàng con? Mày vẫn nằm đây hả con?”

Ông già gạt cành dâm bụt lách vào sân. Bác dừng lại trước thềm, nhìn bả vai sưng to và bốn bàn chân rớm máu, thở dài thắt ruột:

“Trời đất ơi… Sao ra nông nỗi này hả con chó con?”

Bác ngồi thụp xuống bậu cửa. Bàn tay thô ráp đầy sẹo xoa nhẹ lên chỏm tai tôi. Hơi ấm từ tay ông xua bớt cơn run rẩy buốt giá. Bác vuốt dọc sống lưng tôi, ngón tay sững lại trước những đốt sườn nhô cao:

“Đói lả người rồi còn gì. Bụng dính chặt vào lưng thế này thì sống sao nổi.”

Bác thò tay vào túi áo bông vá, lôi ra nửa khúc bánh mì khô bọc trong mảnh báo cũ. Ổ bánh quắt queo, mép lấm tấm mốc. Bác tỉ mẩn gọt sạch vỏ mốc, bẻ vụn ruột bánh trắng ngà bỏ vào chiếc đĩa men sứt dưới chân cột hiên, đặt sát mõm tôi:

“Ăn đi con. Tao chỉ có ngần này thôi. Ăn đi kẻo lả.”

Mùi tinh bột bốc lên thơm nức. Tôi rướn cổ ngoạm lấy những mẩu bánh vụn. Ruột bánh khô cứng cọ vào họng rát buốt, nhưng vị ngọt bùi làm tôi nuốt vội từng ngụm lớn, liếm sạch bong lòng đĩa sứt.

Thấy tôi nghẹn ho sù sù, bác Tư tập tễnh bước vào chái bếp dột, dùng gáo dừa múc chút nước mưa trong xô nhôm đem ra trút vào đĩa. Tôi cúi đầu uống cạn, dạ dày ấm dần lên. Tôi vươn lưỡi liếm mu bàn tay nứt nẻ của ông già để tạ ơn.

Bác Tư quẹt diêm châm điếu thuốc cuốn bằng giấy báo. Làn khói thuốc khét nồng phả ra giữa trời đông buốt giá.

“Nhà này hết rồi con ạ,” giọng ông khàn đặc, rơi nặng trịch xuống nền gạch. “Bố mày cờ bạc trốn nợ biệt tăm. Mẹ mày đi bãi đá miền Trung gánh gạch, xa nghìn dặm biết bao giờ về. Còn cậu út bị kéo ra lò gạch ven sông phụ việc. Thân nó làm còn không đủ ăn, ai nuôi thêm miệng chó ăn chực?”

Tôi lắng nghe âm thanh trầm đục ấy. Dù không hiểu hết lời nói, nhưng cái lắc đầu cay đắng của bác cho tôi biết người thân đã đi rất xa.

Bác Tư chỉ tay ra cánh cổng quấn xích:

“Mày nằm đây chờ ai? Chờ cậu út à? Cổng khóa rồi. Mai mốt lũ đòi nợ hay bọn trộm chó lượn qua, mày chết khô ở đây chẳng ai hay. Nghe lời tao, bỏ thềm nhà đi con. Lết lên xóm chợ nhặt xương thừa đầu cá mà sống qua ngày…”

Nói rồi bác chống tay đứng dậy, dập mẩu thuốc tàn, tập tễnh lách qua bờ giậu ra ngõ. Bác nâng càng xe, ngoái nhìn tôi lần cuối rồi xua tay:

“Đi đi con… Đừng đợi nữa…”

Bánh xe cao su nghiến ràn rạt trên đá dăm, bóng dáng còng còng khuất dần nơi đầu dốc.

Tôi đứng dậy, bước xuống một bậc thềm. Một thôi thúc trỗi dậy trong lòng: nếu đi theo cỗ xe của bác Tư ra xóm chợ, ngày mai tôi sẽ có thêm mẩu bánh vụn, sẽ có chỗ che mưa tránh rét.

Tôi đi ra giữa sân, nhìn đăm đắm ra con dốc vắng.

Dưới chân tôi, chiếc răng sữa đầu tiên nằm lẫn trong cát bụi, vẫn vương chút mùi mồ hôi của đứa bạn nhỏ từng khóc ướt trán tôi đêm trước ngày ly tán. Sau lưng tôi, căn nhà hoang lạnh tanh nhưng vệt tương bần vẫn in đậm trên thềm cũ.

Đây là nhà. Là nơi đứa bạn nhỏ từng ôm ghì lấy cổ tôi dặn dò: “Mi ở nhà trông nhà cho tao nhé…”

Nếu tôi bỏ đi, ngày cậu út trở về, nó sẽ tìm tôi ở đâu?

Tôi dừng lại bên rào râm bụt. Tôi quay đầu, lê từng bước nặng nề trở lại bậc thềm nứt nẻ.

Tôi cuộn tròn nơi vệt nắng nhạt đang co lại như sợi chỉ vàng, giấu bốn chân rách dưới bụng, tựa bả vai đau vào vách đất lạnh. Kẻ gác thềm cô độc gối mõm lên hai chân trước, tiếp tục kiên định bám trụ mảnh đất của lòng trung thành.