Chương 45 — Chân thọt của bác Tư

Chương 45 — Chân thọt của bác Tư

Cơn buốt giá mùa đông ngấm sâu vào từng thớ thịt rách toạc bên mạn sườn.

Sau đêm thoát khỏi hai kẻ cầm chĩa điện, tôi nằm bẹp bên ngoài cánh cổng sắt suốt hai ngày ròng. Vết cháy xém ở bả vai trái do luồng điện cao thế đánh trúng đã đóng thành mảng vảy đen sì, cứng đơ như miếng tôn rỉ. Chỉ cần móng chân cựa quậy, lớp da non bên dưới lại toác ra, rỉ chất dịch vàng tanh nồng. Vết rách dọc sườn do đá dăm cào xước cũng nhức nhối khôn cùng dưới lớp bùn cống khô cứng. Tôi chỉ biết thè lưỡi ráp liếm quanh mép da tổn thương, nuốt vị mặn chát hòa cùng mùi tanh vào cuống họng đói khát.

Sau lớp chấn song rỉ quấn đầy dây thép gai, bậc thềm xi măng nứt nẻ của căn nhà cũ vẫn trơ trọi. Vệt nắng mùa đông mỏng manh lách qua rào dâm bụt, rọi nghiêng lên mép gạch quen thuộc rồi lụi tàn trong bóng chiều lạnh buốt. Từ ngày bạn già Vện bị siết thòng lọng bắt đi, ngõ cụt vắng hẳn tiếng sủa. Xóm thợ chìm vào sự câm lặng đáng sợ. Tôi sống sót bằng cách lết chân sau sưng tấy bới những thùng xốp mục, nuốt trôi mẩu bánh đúc thiu hay cọng rau dập rơi vãi ven rãnh nước.

Trong những ngày cơ cực ấy, tôi ngóng chờ tiếng cọc cạch của chiếc xe hai bánh chở phế liệu, tiếng gậy sắt gõ lộc cộc và nhịp chân chấm phẩy quen thuộc: một bước nặng nghiến cát sỏi, một bước nhẹ hẫng hụt của bác Tư. Suốt bao năm, người đàn ông tật nguyền ấy vẫn tạt qua ngõ bẻ cho tôi mẩu sắn luộc hay mẩu bánh khô thơm mùi thuốc rê. Nhưng suốt cả tháng trời rét mướt vừa qua, ngõ nhỏ bặt hẳn bóng dáng chiếc xe ấy. Tôi ngỡ người đàn ông già cũng đã bước lên chuyến xe nào đó rời bỏ ngõ nghèo, như những người từng ở trong căn nhà này.

Cho đến một buổi trưa hanh khô cuối năm.

Trời xám xịt màu mây đục. Mặt đất dưới bụng truyền đến nhịp rung ngập ngừng, đứt quãng. Tiếng bánh cao su nghiến chậm chạp trên đá dăm, cứ vài bước lại khựng lại kèm tiếng thở dốc. Tôi giương cái mũi khô hít một hơi thật sâu. Một luồng mùi lạ lùng xộc thẳng vào sống mũi: mùi dầu gió cay xè quyện với mùi thuốc bắc ngai ngái ẩm ướt và mùi da thịt người già ủ kín lâu ngày. Bên dưới lớp mùi nồng gắt ấy vẫn vương vệt mồ hôi mằn mặn và bụi sắt vụn quen thân.

Là bác Tư.

Chiếc xe ve chai nhích từng tấc qua khúc quanh. Bác Tư gầy sụp đi nhiều. Chiếc áo bông chần cũ kỹ rộng thùng thình trùm lên hai vai nhô xương. Bác không còn đi nhịp chấm phẩy thoăn thoắt ngày nào; cái chân tật dường như ngắn hẳn lại, mỗi lần nhấc lên là cả thân người lại chao đảo. Hai bàn tay gầy guộc bấu chặt gióng sắt để tì sức nặng tiến về phía trước.

Khực… khù khụ!

Một tràng ho bất thần nổ ra từ lồng ngực lép kẹp. Chiếc xe dừng sững giữa lối đi. Bác Tư buông một tay, gập người xuống bụm chặt miệng. Cơn ho giật cục xé rách cuống họng khô cháy, cả thân hình bác rung lên bần bật. Tiếng rít qua phế quản khò khè như bễ lò rèn rách bạt.

Tôi tập tễnh bước ra khỏi bóng râm chân cột, đuôi ve vẩy nhẹ sát mặt đất. Bác Tư dứt cơn ho, ngẩng khuôn mặt xám ngoét lên. Đôi mắt trũng sâu đục mờ nhìn thấy tôi, bàn tay khẳng khiu từ từ hạ xuống:

  • Mi… con Mi đấy hả mầy?

Giọng bác khàn đặc như hai mảnh sành cọ vào nhau. Bác buông tay khỏi xe, lảo đảo trượt người ngồi bệt xuống vệ cỏ khô cạnh gốc dâm bụt. Cái chân tật duỗi thẳng khó nhọc, để lộ mắt cá chân sưng mọng tím tái.

Tôi tiến lại gần, rúc đầu vào mép ống quần bạc màu đầy bụi đất. Bác run rẩy đưa bàn tay đen đúa vuốt ve đỉnh đầu tôi. Ngón tay thô ráp sờ trúng mảng vảy đen cháy xém trên bả vai trái khiến tôi khẽ rụt cổ lại. Đôi mày bạc của ông lão nhíu chặt:

  • Tiên sư chúng nó… Suýt nữa chúng nó xơi mất mầy rồi…

Bác thở dài khò khè, rồi lần tay vào túi áo bông rút ra bọc giấy báo nhỏ. Mở lớp giấy ố vàng, một mẩu bánh mì nướng vàng ươm lộ ra, phả vào mũi tôi hương thơm ngào ngạt của bột mì còn ấm. Bác bẻ mẩu nhỏ nhét vào miệng nhai trệu trạo, còn mẩu lớn bằng nắm tay đặt lên chiếc lá khô trước mặt tôi:

  • Tao vừa ở trạm xá về, ghé mua đấy… Ăn đi cho ấm bụng, gầy trơ xương rồi con ơi…

Tôi chồm tới nuốt trọn mẩu bánh. Vị ngọt bùi béo ngậy làm bừng tỉnh cái bụng lép kẹp sau bao ngày đói lả. Tôi liếm sạch từng hạt vừng rơi trên lá khô rồi dụi đầu vào ống chân bác.

Bác Tư nhìn tôi, khóe miệng méo xệch giật giật. Đôi mắt đỏ hoe của bác ngước nhìn cánh cổng sắt bị quấn xích chằng chịt, nhìn khoảng sân hoang phế bên trong:

  • Nhà này tan nát hết rồi mầy ạ… Bố mầy trốn nợ biệt tăm, mẹ mầy đi gánh gạch miền trong, còn thằng bé bị kéo ra lò gạch ven sông phụ việc… Kiếp người nghèo khổ như con sâu cái kiến…

Bác bấu tay vào gióng xe, run rẩy gượng đứng dậy. Chiếc chân tật run lẩy bẩy khi gánh đỡ sức nặng thân hình tàn tạ:

  • Tao cũng sắp không đẩy nổi cái xe này nữa rồi… Cơn hen nó bóp nghẹt thở suốt tháng qua, nằm một mình trong lán tôn lạnh ngắt… Đừng nằm chờ ở đây nữa con, người ta không về đâu…

Bác nắm lấy tay cầm, dồn sức đẩy chiếc xe hai bánh lăn đi. Tiếng cao su nghiến trên đá dăm lạo xạo, nhịp bước cà nhắc khuất dần sau khúc ngoặt đầu dốc giữa tiếng ho húng hắng ngắt quãng.

Tôi đứng nhìn theo cho đến khi ngõ nhỏ trở lại tĩnh mịch. Nơi bác vừa ngồi, mùi thuốc rê cũ kỹ đã tan biến hoàn toàn. Thay vào đó, mùi dầu gió cay nồng ngai ngái mùi bệnh tật bám chặt lấy vệ cỏ khô, quẩn quanh bên khung sắt rỉ như vết dấu của chút tình người đang dần lụi tàn theo năm tháng.

Tôi lết chân sau đau nhức quay về chân cột, gối mõm lên hai móng trước, mắt hướng qua chấn song rỉ sét, tiếp tục kiên nhẫn bám trụ để giữ trọn lời thề câm lặng.