Chương 48 — Hộp thiếc chân trụ

Chương 48 — Hộp thiếc chân trụ

Mưa mùa đông trút xuống xóm thợ lúc nửa đêm, đặc quánh và buốt giá như hàng vạn mũi kim nhọn cắm thẳng xuống mái tôn rỉ sét. Gió bấc rít từng chặp qua khe tường vôi lở. Hơi ẩm từ rãnh cống ngõ cụt bốc lên sặc sụa mùi rác rữa và váng dầu ôi thiu. Đêm đen đặc, xóm nghèo chìm nghỉm trong tiếng nước réo rắt.

Tôi nằm nép sâu dưới chân trụ bê tông ngoài cánh cửa sắt. Chân sau bên phải bị trẹo khớp từ cú vung gậy ban trưa vẫn giần giật đau buốt, nhức nhối ăn sâu vào tủy. Bên mắt trái đã mờ mịt bởi lớp màng mộng đục ngầu, chỉ còn mắt phải lờ mờ trông ra màn mưa trắng xóa.

Nước từ mép mái tôn đổ ụp xuống, tạo thành dòng chảy xiết ngay sát chỗ tôi nằm. Mặt đất dưới ức tôi bỗng rung nhẹ. Một mảng vữa mục nơi chân cột vừa bong ra, trôi tuột theo dòng nước. Kẽ đá nứt nẻ, nơi tôi chôn giấu chiếc hộp thiếc bánh quy suốt bao tháng ngày qua, bắt đầu bị bùn cát tràn vào. Dòng nước xoáy tròn sủi bọt, chực chờ nuốt chửng hốc đá. Mùi kim loại hoen gỉ thân quen bị luồng nước lạnh xộc vào phả lên ngai ngái rồi mỏng dần.

Nỗi hoảng sợ lập tức giật tung lồng ngực tôi.

Trong chiếc hộp sắt tây ấy có những viên bi ve trong vắt, vài mảnh vỏ ốc sông, và chiếc răng sữa màu ngà của đứa trẻ từng rụng xuống nền đất vào buổi chiều mùa thu năm nào. Ngày ấy dưới gầm phản, đứa trẻ nhét chiếc răng vào hộp rồi thì thầm bên tai tôi, bảo rằng đây là vật giữ làm dấu để sau này tìm về. Nếu dòng nước xiết cuốn phăng nó xuống cống ngầm, tôi sẽ mất dấu cậu út giữa cõi đời rộng lớn này.

Tôi cắn răng nhấc nửa thân trước dậy. Khớp háng sau nhói lên cơn đau xé thịt, khiến tôi trượt ngã dúi dụi vào vũng nước lạnh ngắt. Mảng sẹo bỏng điện nơi bả vai trái cọ sát vào cạnh đá sắc nhọn rách toạc ra rỉ máu. Không chịu nằm yên, tôi dùng hai chân trước trườn tới miệng kẽ nứt.

Mũi tôi chạm phải lớp bùn đặc lạnh buốt. Tôi bắt đầu cào bới. Hai móng trước quắp chặt, điên cuồng móc từng mảng đất nhão ném ra sau. Móng vuốt sau nhiều năm bám trụ nơi ngõ cụt đã cùn mòn sứt mẻ. Đất cát găm sâu vào kẽ móng làm mười đầu ngón tứa máu tươi, vừa ứa ra đã bị mưa xối trôi mất.

Kẽ nứt quá hẹp. Móng chân tôi cào trúng cạnh đá hộc trơn tuột, tóe ra một tiếng rít ghê người, làm bong một mảng móng non buốt óc. Dòng nước trên mái vẫn không ngừng xối xuống, đất cát sạt lở chực vùi lấp cái lỗ tôi vừa đào.

Không chần chừ, tôi cúi rạp đầu xuống, ấn cả mõm sâu vào trong bùn lầy. Nước bẩn lọt vào mũi làm tôi sặc sụa. Tôi khịt mạnh tống cặn bẩn ra ngoài rồi dùng hàm răng cửa đã lung lay ngoạm sâu vào lòng đất lạnh. Răng tôi cắn phải một vật cứng ngắc, lạnh buốt và sắc lẹm.

Vị kim loại hoen rỉ lập tức lan khắp đầu lưỡi. Cạnh mép nắp hộp bánh quy!

Tôi nghiến chặt hàm, cắn ngập vào gờ sắt hoen ố rồi gồng cứng cơ cổ giật lùi về phía sau. Khớp háng đau thấu trời, nướu răng bật máu tanh nồng. Tôi gầm gừ nghẹt thở trong cuống họng, hai chân trước bấu chặt mép xi măng làm điểm tựa.

Một tiếng rột khẽ vang lên. Bùn non nhả dần ra. Chiếc hộp thiếc vuông vức bật khỏi kẽ nứt, theo đà giật trồi lên mặt đất.

Tôi ngã ngửa ra vũng nước, lồng ngực thở dốc từng hồi ngắt quãng. Tôi vội gối hai chân trước xuống bùn, cúi đầu áp sát chóp mũi vào mép hộp. Nắp hộp đã bị rỉ sét ăn thủng một lỗ nhỏ. Qua kẽ hở ấy, một làn hương quen thuộc khe khẽ thoát ra, đánh bạt mùi tanh nồng của dòng nước buốt giá.

Đó là mùi mồ hôi chua ngọt của người bạn nhỏ từng mặc manh áo vá lấm lem. Mùi cơm cháy kho quẹt giấu trong túi quần thủng đít. Và sâu thẳm bên trong là mùi chiếc răng sữa sạch sẽ, ngai ngái mùi vôi khô từ thuở ấu thơ. Mùi hương ấy vẫn còn nguyên vẹn, như ngọn lửa nhỏ sưởi ấm lồng ngực lạnh ngắt của tôi.

Một tiếng ử ử mừng rỡ rền rĩ trong họng. Tôi đưa chiếc lưỡi ráp ra, kiên nhẫn liếm sạch lớp bùn đen bám trên nắp hộp cho đến khi lộ ra hoa văn thiếc phai màu loang lổ vết gỉ đồng.

Nước mưa dâng lên ngập cả bốn móng chân. Tôi cúi xuống ngoạm chặt góc hộp thiếc, dùng hết tàn lực của ba chiếc chân lành lặn đẩy thân mình trườn lên gờ bệ xi măng cao hơn, nằm ép sát góc chấn song sắt. Nơi đây có mái tôn che chắn, nền xi măng khô ráo hơn đôi chút.

Tôi nằm rạp xuống bệ đá, thở hắt ra một luồng khói trắng giữa trời đông giá. Tôi dùng hai chân trước kéo chiếc hộp vào sát vòm ngực gầy guộc, nơi lớp lông vàng hung đã rụng xơ xác. Tôi cuộn tròn thân xác thành một vòng cung khép kín, ép chặt chiếc hộp sắt vào quả tim đang đập nhọc nhằn. Hơi ấm ít ỏi từ ngực tôi bắt đầu truyền sang vỏ thiếc. Mùi rỉ sắt và mùi chiếc răng sữa quấn quýt quanh khóe mũi, tựa như bàn tay nhỏ xíu của đứa trẻ năm nào đang xoa dịu nỗi đau trên đỉnh đầu tôi.

Ký ức xa xôi lại dội về. Những đêm mưa bão dột nát, đứa trẻ kéo tôi vào gầm giường trốn cơn giận dữ của người lớn. Đứa trẻ run rẩy ôm chặt lấy tôi, mở chiếc hộp này ra ngắm nghía rồi thầm thì dặn dò tôi phải sống thật ngoan để đợi cậu lớn lên. Giờ đây người cha đã bỏ đi, người mẹ đã lên chuyến xe ly hương, đứa trẻ cũng bị cuốn theo chiếc xe cải tiến về phía lò gạch ven sông. Căn nhà hoang bị xích chặt ba vòng thép gai, tôi trở thành con chó hoang tàn tạ nơi đầu ngõ.

Nhưng tôi vẫn còn chiếc hộp này. Tôi vẫn còn giữ được mùi hương của người bạn nhỏ.

Gió bấc rít từng hồi qua khe cửa sắt. Mưa đông vẫn rơi rả rích trên sỏi nhọn buốt giá. Tôi gối mõm lên cạnh sắc của chiếc hộp thiếc, mắt phải dán chặt vào khoảng tối hun hút ngoài đầu ngõ. Cơn đau nhức từ khớp háng vẫn âm ỉ, cái lạnh của nền xi măng vẫn ngấm dần vào thịt da, nhưng tôi không còn run rẩy.

Tôi sẽ nằm ở đây, ôm trọn lấy kỷ vật của người bạn nhỏ, kiên nhẫn canh giữ điểm hẹn này.

Hơi kim loại rỉ sét quyện cùng mùi vôi vữa hoang tàn sưởi ấm cho trái tim chú chó trung thành, khóa chặt một lời thề sống chết giữa mùa đông cô độc.