Chương 49 — Bác Tư nằm lại

Chương 49 — Bác Tư nằm lại

Bác Tư nằm lại

Giọt nước buốt từ mép tôn rỉ buông chậm chạp, gõ cộc cộc xuống chậu thủng xó sân. Mưa đêm trước đã dứt, nhưng hơi giá vẫn đọng quanh chấn song sắt ngõ cụt.

Tôi tỉnh giấc khi bốn đệm thịt dưới chân đã đông cứng. Lồng ngực gầy ép chặt nắp chiếc hộp bánh quy hoen gỉ, giữ kỷ vật của bạn nhỏ không bị ẩm ướt. Sau đêm cào bới bùn lôi hộp lên bệ xi măng, khớp háng sau bên trái nhức buốt tận tủy sống. Mỗi lần co chân, luồng đau nhọn hoắt lại giật dọc sống lưng, làm mẩu đuôi cụt run bần bật.

Mắt trái giờ chỉ còn là màng vôi đục nhờ nhờ như váng cháo nguội. Tôi nghiêng đầu, mở to mắt phải nhìn ra ngõ. Xóm thợ chìm trong màu xám lạnh của sương muối. Tôi vểnh tai đón nhịp bước đầu ngày: tiếng cọt kẹt của cỗ xe gỗ do bác Tư phế liệu đẩy từ xóm dưới lên.

Mỗi sớm đông, nhịp bước tập tễnh của bác đều ghé qua dốc đá. Bác đi chân thọt, một bước nện chắc, một bước kéo lê sột soạt. Thùng xe gỗ chở đầy bao tải phế liệu gom nhặt. Nhưng thân thương nhất là mùi của bác: mùi dầu gió cay the, khói thuốc lào khét lẹt và hơi ấm mẩu bánh nướng bác để dành cho tôi.

Tôi dỏng tai hết cỡ, nhưng ngõ xóm vắng lặng. Không tiếng kim khí va chạm, không tiếng ho hen sù sụ. Chỉ có gió bấc rít qua kẽ gạch từng hồi u u.

Bỗng nhiên, từ lòng đất ẩm, một rung chấn lạ truyền tới. Nhiều bước chân dẫm đạp hỗn loạn lên sỏi đá từ phía xóm dưới.

Cùng với rung chấn ấy là thứ âm thanh xé toạc sự tĩnh mịch buốt giá.

Tiếng kèn đồng réo rắt cất lên, méo mó rầu rĩ, từng nốt kèn kéo dài như sợi dây thừng ẩm mục. Tiếng trống da bò thùng thình từng nhịp nặng trịch. Âm thanh đục ngầu trườn qua bờ tường vôi lở, dội vào màng nhĩ khiến hai tai tôi cụp chặt xuống.

Gió bấc thốc ngược từ xóm dưới mang theo luồng mùi ngột ngạt: khói nhang trầm cay xè, vàng mã khét lẹt và tử khí lạnh ngắt của đất sâu. Trong làn khói ấy, thoang thoảng mùi hương quen thuộc đang nguội dần: mùi dầu gió Phật Linh. Nó không còn hơi ấm của da thịt con người nữa.

Bản năng mách bảo điều chẳng lành. Tôi dùng mõm đẩy chiếc hộp bánh quy giấu sâu vào hốc kẹt chân trụ rồi ủi lá bàng khô phủ kín.

Khớp háng sưng tấy khiến tôi phải co quắp chân đau sát bụng. Tôi tập tễnh ba chân lê thân xác già nua ra khỏi bậu cửa sắt, men theo bờ rào hướng về đầu dốc.

Đá dăm cắm vào đệm thịt chai nứt, buốt nhói từng cơn. Mắt trái mờ đặc, tôi dựa vào mắt phải ghèn rỉ lần đường. Tới khúc quanh bờ mương than, tôi nép sát gốc bàng nhìn xuống căn chòi lá xóm dưới.

Căn chòi của bác Tư phế liệu.

Mảnh sân ve chai bị dạt sang mép mương, nhường chỗ cho đám đông xóm thợ đứng chen chúc trong gió rét. Tấm bạt dứa rách căng tạm lên mái lá xiêu vẹo. Trên vách nứa dán tờ giấy trắng bay phần phật. Bát hương lon sữa bò trước cửa bốc khói nghi ngút.

Ngay mép cống, cỗ xe gỗ của bác Tư nằm nghiêng bất động. Thùng xe phủ bao tải rách đè mấy viên gạch vỡ. Hai càng tre cắm mũi xuống bùn đen lạnh ngắt. Không còn bóng lưng còng gầy gò. Cỗ xe trơ khấc như bộ xương khô giữa đồng hoang.

Đám người khiêng linh cữu bước ra.

Tiếng kèn đồng réo inh ỏi. Bốn người đàn ông vác cỗ ván gỗ tạp sơ sài quét vội lớp sơn đỏ chưa khô mùi dầu bóng. Phía sau chỉ có vài người đàn bà tay cầm nắm hương nghi ngút, vạt áo rách bay phần phật.

Đoàn người chầm chậm tiến lên dốc. Tôi ép sát bụng xuống bùn lạnh, tai bắt lấy từng lời nói rời rạc:

Khổ quá, rét mướt thế này mà đi… Đêm hôm kia gió mùa về dữ dội, chắc bác ấy lên cơn hen rồi đi luôn trên chõng tre. Sáng hôm qua người ta sang mượn đồ mới thấy cứng đờ rồi.

Người đàn bà bên cạnh thở dài:

Một đời cô độc gom sắt nuôi thân, lúc chết chẳng có ai bên cạnh. May mà cả xóm góp tiền mua nổi cỗ ván tạp đưa ra bãi tha ma ven sông…

Khi cỗ ván đi ngang qua, luồng tử khí lẫn mùi dầu gió lạnh toát ùa qua mũi tôi. Mùi thân quen bao năm qua giờ nguội ngắt như tro tàn. Đuôi cụt run rẩy đập nhẹ xuống đất theo phản xạ đón người quen. Tôi muốn cất tiếng ử ử nghẹn ngào, nhưng cổ họng chỉ phát ra luồng hơi khè yếu ớt.

Một người đàn ông trong đoàn đưa tang nhìn thấy con chó già gầy rộc co ro ba chân bên rãnh nước. Tay ông ta cầm nửa mẩu bánh mì cắn dở lót dạ sớm. Ông ta dừng lại, buông tiếng thở dài khô khốc:

Lại là con chó giữ nhà hoang… Bác Tư chết rồi, mày lấy ai cho ăn nữa hả con chó già?

Nói rồi, ông ta quẳng mẩu bánh thừa về phía chân cổng sắt nhà tôi, xua tay:

Đi mà nhặt lấy mà ăn, rồi liệu biến đi nơi khác chứ bám ở đây cũng chết đói thôi!

Mẩu bánh rơi cộp xuống đá dăm ẩm ướt, lăn tới mép then rỉ cánh cổng xích kín thép gai. Người đàn ông vội rảo bước theo cỗ quan tài đang trôi dần về bến sông.

Tiếng kèn đám ma rầu rĩ lịm dần sau rặng tre gai ven đê. Tiếng trống tắt hẳn. Những mẩu vàng mã bị gió cuốn bay lả tả trên ngõ nhỏ, vài mảnh rơi tọt xuống cống đen ngòm.

Ngõ cụt lại trở về sự tĩnh lặng rợn ngợp.

Tôi gượng ba chân, khó nhọc nhảy lò cò quay lại chân trụ cổng sắt. Háng sau buốt rát, đệm thịt ứa máu để lại những chấm đỏ nhạt trên đá dăm. Chiếc hộp thiếc vẫn an toàn dưới lớp lá bàng. Tôi cúi đầu ngoạm mẩu bánh thừa bám cát bụi tha về đặt cạnh chiếc hộp thiếc rồi nằm phủ phục xuống bệ xi măng.

Mõm gối lên cạnh sắc chiếc hộp, đầu mũi chạm vào mẩu bánh lạnh, tôi nhìn đăm đắm ra con dốc vắng teo. Cỗ xe gỗ kia sẽ vĩnh viễn không bao giờ lăn bánh qua khúc quanh này nữa. Sẽ không còn bàn tay thô ráp vuốt ve đỉnh đầu tôi. Bác Tư đã nằm lại dưới nấm mồ đất lạnh nơi bãi tha ma ven sông.

Sợi dây che chở cuối cùng giữa thế giới loài người với tôi đã đứt hẳn. Giờ chỉ còn lại tôi, một con chó già tật nguyền với con mắt đục ngầu, trơ trọi bám trụ bên then rỉ giữa mùa đông xám xịt.

Tôi rúc sâu mũi vào lớp lông ngực gầy guộc, nơi chiếc hộp thiếc đang nép chặt vào xương sườn. Chiếc răng sữa của bạn nhỏ vẫn nằm đây. Chừng nào lồng ngực này còn thoi thóp thở, tôi vẫn sẽ nằm bẹp nơi này canh giữ.

Mùi dầu gió và sắt rỉ thân quen tan biến hoàn toàn vào làn khói nhang lạnh ngắt; trước thềm gỉ xích chỉ còn lại chú chó già trơ trọi giữa cơn gió bấc cắt da. Mùa đông dài khắc nghiệt nhất của một đời chó cỏ giờ đây mới thực sự bắt đầu.