Chương 54 — Vùi hộp thiếc dưới đất đen

Cái buốt của đợt rét kỷ lục không tan đi khi bóng tối rút khỏi xóm thợ. Nó chuyển thành thứ ánh sáng nhờ nhờ, đùng đục như nước vo gạo ôi phủ lên những mảng tường đổ nát.

Tôi không mở được mắt. Hai mí mắt dính chặt bởi lớp ghèn khô lẫn bụi vôi cay xè. Kể từ ngày bức tường rào bên hông bị máy ủi phạt sập, đôi mắt mười hai tuổi của tôi đã khép lại sau lớp màng mộng trắng đục. Chiếc mũi nứt nẻ và bốn đệm móng áp chặt xuống nền xi măng là những gì còn lại giúp tôi nhận biết mặt đất.

Đất bùn quanh chân trụ cổng sắt sau một đêm đông bắc quất buốt đã đông cứng lại. Những rãnh nước hôm qua nay đóng váng sắc lẹm. Tôi nằm co quắp trong góc kẹt giữa bệ xi măng nứt nẻ và chân trụ sắt rỉ, hai cẳng chân sau gập sát vào bụng dưới để giữ lấy chút hơi ấm mỏng manh. Bốn đầu đệm móng rách toác đêm qua vì đợt cào bới xua đuổi chuột cống, máu tanh rịn ra hòa vào đất cát nay đông lại thành từng vảy đen ráp buốt.

Ngay dưới hõm ức của tôi, chiếc hộp bánh quy hoen gỉ vẫn nằm đó.

Lớp sắt tây mỏng dính của chiếc hộp lạnh ngắt, truyền cái lạnh vào lớp da bụng xơ xác. Chiếc hộp tròn méo mó, mép nắp vênh một khoảng nhỏ vì những cú va đập qua năm tháng. Chỉ cần hít một hơi nhẹ, mùi vị thân thuộc từ khe hở ấy lại len lỏi vào tâm trí tôi. Mùi mồ hôi chua mặn của bạn nhỏ, mùi nắng ngắt ngấm sâu vào vạt áo sờn rách, hòa cùng mùi xà phòng giặt bên vại nước mưa. Bên trong chiếc hộp, mẩu ngà sữa nhỏ xíu của đứa trẻ năm sáu tuổi nằm nép cạnh mẩu nanh già rụng đợt trước của tôi. Hai mảnh vật báu lách cách chạm vào nhau mỗi khi tôi trở mình.

Đó là tất cả những gì tôi còn giữ được sau mười hai năm bám trụ bậc thềm này.

Đúng lúc đó, từ đầu ngõ dội lại những rung chấn nặng nề.

Mặt đất truyền qua lớp đệm thịt dưới chân tôi những nhịp giẫm thô bạo. Đó là bước chân mang ủng cao su nặng trịch dẫm bẹp vụn gạch vỡ. Tiếng xà beng sắt thọc mạnh vào bờ tường đổ nát vang lên chát chúa, kèm theo mùi khói thuốc lá khét lẹt và tiếng chửi thề khàn đặc.

Những kẻ mót phế liệu đã mò vào ngõ cụt.

Mũi xà beng nện xuống mỗi lúc một gần, làm đất cát dưới bụng tôi rung bần bật. Góc hõm chân trụ này vốn nông, sau đợt máy ủi cào phạt, lớp gạch che chắn bên ngoài đã vỡ toác. Chiếc hộp thiếc nằm ngay mép ngoài, chỉ cần một mũi sắt lia qua là sẽ bị lôi tuột ra ngoài.

Một tiếng quát thô lỗ vang lên ngay trên đầu:

“Ê, cạy nốt đoạn giằng sắt ở trụ cổng này đi! Nhìn kìa, dưới chân cột có con chó ghẻ nằm chết trương hay sao ấy.”

“Kệ xác nó, chọc xà beng xem có thanh giằng ngầm nào cắm xuống móng không!”

Mặt đất rung chuyển khi thân hình to lớn bước tới. Mũi xà beng cắm phập xuống lớp sỏi sát mép bệ xi măng, chỉ cách chiếc hộp thiếc một gang tay. Vôi vữa văng rào rào trúng sống mũi tôi cay xè.

Toàn thân tôi cứng đờ. Cổ họng khô khốc gầm gừ nghẹn đặc, chiếc nanh cùn hàm dưới cọ vào bờ môi run rẩy. Gã đàn ông lùi lại một bước:

“Nó còn sống! Thôi sang cạy góc tường bên kia trước đã, lát quay lại nện búa sau.”

Hai đôi ủng lạch bạch bước ra xa. Hơi thở tôi dồn dập rát bỏng lồng ngực. Mối nguy chưa hề qua đi. Họ sẽ quay lại, và lưỡi sắt sẽ nghiền nát chiếc hộp thiếc cùng những mảnh kỷ vật bên trong. Chưa kể, mùi bùn cống quen thuộc lại trôi tới. Lũ chuột cống xám xịt đang rình rập ngoài miệng rãnh thoát nước, chực chờ con chó già kiệt sức để lao vào tha mất kỷ vật.

Cái hốc kẹt này không còn an toàn nữa. Tôi phải chôn chiếc hộp xuống thật sâu, sâu vào lòng đất đen dưới chân móng trụ bê tông.

Tôi chống hai chân trước xuống mặt xi măng lạnh buốt, gồng cứng khớp vai nâng nửa thân trước lên. Khớp háng sau buốt nhói, hai chân sau liệt cứng kéo lê sau thân mình. Tôi trườn từng tấc một, xoay đầu vào góc trong cùng của hõm trụ, nơi tiếp giáp với lớp đất đen ẩm ướt dưới chân móng.

Tôi cúi thấp đầu, vung cẳng chân trước bổ mạnh xuống mặt đất cứng quắt. Móng chân đập trúng sỏi dăm sắc lẹm, buốt nhói dội ngược lên khớp khuỷu. Máu tươi rịn ra từ khóe móng nứt toác, nhỏ giọt xuống nền đất. Tôi nghiến chặt hàm, vung tiếp chân trái xuống.

Cào. Cào mạnh.

Móng vuốt cùn mòn của con chó già dồn hết trọng lượng nửa thân trên vào từng nhát bới. Đất bùn đóng băng rạn nứt, vỡ ra từng mẩu vụn nhỏ bắn vào ống chân. Mảnh sành chai vỡ cứa sâu vào đệm thịt, máu chảy ròng ròng nhuộm đỏ đáy hố.

Tôi dùng cả đầu mõm đầy sẹo ủi phăng những viên đá to ra ngoài. Đáy hố sâu dần, chạm tới lớp đất dẻo ẩm ướt sâu bằng một gang mõm, vừa vặn để đặt trọn chiếc hộp thiếc tròn.

Bên ngoài, tiếng búa tạ lại nện chan chát vào bờ tường. Thời gian sắp hết.

Tôi xoay đầu, dùng chút răng hàm còn lại và nướu răng chai sần ngoạm chặt mép nắp hộp kim loại. Cạnh sắt cứa vào nướu rớm máu tanh nồng, nhưng tôi kiên quyết không nhả. Tôi gồng cứng cơ cổ, cắn chặt mép hộp kéo lùi vào miệng hố đất đen.

Chiếc hộp thiếc rơi lọt thỏm xuống đáy hố ẩm ướt, phát ra tiếng “cạch” trầm đục bình yên.

Tôi liền quỳ hai khuỷu chân trước, dùng hai bàn chân cào ngược lớp đất sỏi vừa bới trở lại miệng hố. Đất đen và tro than rơi lả tả phủ kín nắp sắt hoen rỉ, nuốt trọn mùi mồ hôi của bạn nhỏ vào lòng đất sâu thẳm. Tôi dùng cả chiếc mõm tróc da ủi đất vun lại thành nấm nhỏ, rồi lấy cằm và lồng ngực đè nghiến lên, nén chặt lớp đất bằng chút sinh lực cuối cùng. Móng chân tôi bật máu trên nền sỏi cứng, rỉ từng vệt thẫm như lớp niêm phong bằng chính da thịt mình.

Chiếc hộp thiếc đã biến mất hoàn toàn dưới lòng đất đen.

Một hơi thở dài thượt thoát ra từ lồng ngực gầy của tôi. Kỷ vật của bạn nhỏ đã an toàn rồi. Không ai có thể cướp mất nó nữa.

Bốn chân tôi bủn rủn, toàn bộ thân xác mười hai tuổi đổ sụp xuống, nằm bẹp trọn vẹn lên nấm đất vừa vùi. Tôi dùng chính tấm thân còm cõi làm chiếc nắp che chở cho kho báu. Tiếng bước chân và tiếng xà beng sắt quăng xuống mặt xi măng đánh choang ngay sát mép cổng. Tôi nhắm chặt đôi mắt mù lòa, mặc cho cái buốt giá ngấm sâu vào tủy xương, bình thản nghe nhịp tim yếu ớt của mình chậm dần trong bóng tối.