Chương 60 — Đào hộp thiếc
Gió chiều thổi thốc qua bãi đất hoang, cuốn theo bụi vôi cay nồng và mùi cỏ mục.
Tôi nằm yên trên hai đùi cậu út, nghe từng nhịp thở dốc chậm dần nơi lồng ngực người thợ. Mảnh áo bông vá cũ phủ ngang lưng tôi đã ấm sực, chặn lại luồng gió bấc rình rập luồn qua kẽ sườn trơ xương. Những giọt nước mắt vừa rơi xuống sống mũi tôi giờ đã khô ráp trên lớp da nhăn nheo.
Nhưng trong lòng tôi vẫn còn một mối bận tâm chưa dứt.
Một mối dây vô hình từ nơi sâu thẳm ký ức đang kéo giật lấy khứu giác mòn mỏi. Tôi ráng sức cựa mình, nhấc nhẹ chiếc đầu già nua lên khỏi mu bàn tay cậu út. Đôi tai điếc đặc không thể xoay theo hướng gió, nhưng chiếc mũi ươn ướt khẽ phập phồng, hướng thẳng về phía chân trụ cổng sắt rỉ sét cách bậc thềm chừng mươi bước chân.
Nơi lớp đất đen ẩm mục dưới gốc dâm bụt già cỗi, nơi tôi từng dùng những chiếc móng chân bật máu cào bới trong đêm đông buốt giá để giấu đi một bí mật.
Cổ họng tôi rung lên tiếng khè khè nghẹn ứ. Chiếc mõm nhọn bạc phếch cứ rướn mãi về khoảng không trước mặt, hướng về cái tọa độ tôi đã dùng cả tính mạng neo giữ suốt mười lăm năm.
Cậu út nhận ra sự bồn chồn của tôi. Bàn tay thô ráp ngừng vuốt ve, khẽ luồn xuống ức đỡ lấy tôi rồi ngẩng lên nhìn theo hướng mũi tôi chỉ.
Chân trụ bê tông vỡ lở trơ ra những thanh sắt gỉ ngoằn ngoèo. Dưới gốc dâm bụt rụng trơ cành, mô đất đen sì vẫn nằm im lìm dưới đám lá mục và gạch vụn.
Bắp đùi cậu căng cứng lại.
“Hộp thiếc…”
Tiếng thì thào nghẹn ngào của cậu út dội qua lồng ngực, truyền thẳng vào mạn sườn tôi. Cậu nhớ ra rồi. Đứa trẻ ngày nào từng ngồi xổm dưới gầm chõng tre bẻ đôi que kem mút, từng chỉ vào hốc đá dưới chân trụ cổng mà dặn dò: “Mi giữ kỹ nghe chưa, khi nào tao về, tao với mày cùng mở ra.”
Lời dặn của đứa trẻ lên bảy năm ấy, đối với một con chó cỏ, là mệnh lệnh của cả một đời.
Cậu út cẩn thận túm lấy bốn góc của mảnh áo bông vá, bọc kín thân thể tôi rồi chậm rãi đứng dậy. Cậu ôm tôi trước ngực, bước đi vững chãi trên nền sân ngổn ngang mảnh sành và gạch vỡ, tiến lại sát chân trụ cổng sắt.
Cậu ngồi thụp xuống, nhẹ nhàng đặt tôi tựa lưng vào đám cỏ khô bên mép tường đổ, rồi quỳ cả hai đầu gối xuống lớp đất ẩm.
Cậu không có xẻng, cũng chẳng có que sắt nhọn. Cậu xắn hai ống tay áo rách lên quá khuỷu tay, để lộ những vết trầy xước do kẽm gai ban nãy còn rỉ máu. Rồi cậu xòe đôi bàn tay trần to bè, cắm thẳng mười đầu ngón tay vào lớp đất bùn đen nhánh dưới hốc trụ.
Lớp đất bề mặt bị nén chặt qua bao mùa mưa nắng, cứng quắt như đá tảng.
Mười ngón tay cậu út cào mạnh vào rãnh đất. Từng mảng vữa mục bật ra lạo xạo. Cậu gạt phăng những hòn đá dăm sắc lẹm, dùng cả hai tay giật đứt từng chùm rễ dâm bụt chằng chịt bện quanh hốc đá nứt.
Đầu ngón tay cậu toạc da vì cào phải mảnh sành vỡ. Máu tươi ứa ra từ kẽ móng, nhỏ từng giọt xuống rãnh đất vừa đào. Tôi khẽ rên lên một tiếng ử ử, cố chống chân chồm tới nhưng cậu đưa tay xoa chỏm tai tôi:
“Tao không sao… Mi nằm yên đấy. Tao tìm thấy rồi…”
Bàn tay cậu khựng lại dưới đáy rãnh đất sâu chừng một gang tay. Đầu ngón tay chai sạn chạm phải một bề mặt bằng phẳng, cứng ngắc và lạnh buốt. Tiếng kim loại cọ vào sỏi đá vang lên một tiếng cộc khô khốc.
Cậu út thở dốc, nhẹ nhàng bới lớp bùn quánh dẻo bao quanh rồi nhấc bổng khối kim loại lên khỏi lòng đất.
Đó là chiếc hộp bánh quy bơ Hải Châu hình vuông.
Chiếc hộp sắt Tây ngày xưa vốn đỏ tươi, sau mười lăm năm chôn vùi chỉ còn lại mảng rỉ sét màu cánh gián loang lổ. Bốn góc hộp móp méo vì từng bị đất đá chèn ép và bị chính móng vuốt của tôi cào cắn trong những đêm canh giữ. Đất bùn bám đặc quanh mép nắp tạo thành lớp niêm phong ngăn nước mưa ngấm vào bên trong suốt bao mùa bão gió.
Cậu út ôm chiếc hộp vào lòng, gạt từng mảng đất khô két rồi dùng móng tay cái nạy vào mép nắp. Gỉ sắt cọ vào nhau rột rẹt. Sau một cú nạy dứt khoát, nắp hộp bật mở ra với một tiếng tách đanh gọn.
Một luồng không khí khô ráo suốt mười lăm năm ùa ra ngoài, xua tan mùi ẩm mốc của đất bùn.
Bên trong lòng hộp là bọc vải xô trắng đã ngả sang màu nước chè khô. Cậu út run rẩy mở từng nếp gấp.
Vật đầu tiên rơi ra lòng bàn tay cậu là chiếc răng nanh sữa nhỏ xíu, trắng ngà như một hạt ngô non. Chiếc răng rụng ra năm tôi tròn một tuổi khi mải mê giằng co chiếc dép tổ ong rách của bố dưới gầm phản. Cạnh chiếc răng sữa là ba viên bi ve ve chai xanh biếc vẫn ánh lên vệt sáng lấp lánh dưới ráng chiều. Và sâu dưới đáy hộp là chiếc nắp chai xá xị dập phẳng mép, cùng mẩu xương đồ chơi bằng nhựa màu cam mòn vẹt dấu răng thuở ấu thơ.
Mảnh ký ức tuổi thơ vẫn ngủ yên trọn vẹn dưới rễ cỏ thềm hoang sau mười lăm năm đằng đẵng.
Cậu út nhặt chiếc răng sữa nhỏ xíu áp chặt vào môi. Cả người cậu gập xuống, run bần bật trong cơn nấc nghẹn ngào. Cậu vùi chiếc hộp thiếc vào ngực, rồi quỳ rạp trên nền đất ẩm, tì trán mình vào vầng trán nhăn nheo bạc phếch của tôi.
“Mi ơi… Mi ơi…”
Cậu gọi tên tôi trong tiếng nấc xót xa buốt nhói. Bàn tay lấm lem bùn đất và máu tươi của cậu ôm trọn lấy bốn chiếc móng chân trước đã nứt toác, bật máu và cụt mòn của tôi. Cậu hiểu vì sao móng chân tôi tàn tạ đến mức này. Cậu hiểu vì sao tôi nhất quyết bám trụ bậc thềm hoang phế, dùng cả sinh mạng để giữ tròn lời hứa canh gác kho báu cho cậu.
Tôi nằm tựa vào ngực cậu út, thở hắt ra một hơi dài nhẹ nhõm. Tảng đá nặng đè lên ngực tôi suốt một đời chó cỏ đã tan biến. Lời thề giữ thềm chưa từng bị phản bội.
Ánh hoàng hôn vàng rực như mật ong rừng trượt dài qua đống đất đen, nhuộm vàng chiếc hộp rỉ sét và rọi sáng bóng hai đứa nép vào nhau.
Vệt nắng đang lùi dần về phía mép tường, mỏng manh như sợi khói chiều. Trong huyết quản rệu rã của tôi, một khát khao cháy bỏng bất thần bùng lên. Tôi muốn được nằm mãi trong vòng tay này, thèm được sống thêm một chút nữa để níu lấy hơi ấm trên vạt áo thợ và giữ lại vệt nắng cuối cùng trước khi bóng tối lạnh lẽo trùm xuống trần gian.