Chương 63 — Vệt nắng lùi dần

Tiếng chuông chùa bên triền đê xa lịm dần vào không gian tịch mịch. Cơn gió thổi từ bến than mang theo mùi ngai ngái của nước sông mùa cạn, quyện với mùi gạch nung nồng đượm từ vạt áo bông vá.

Tôi nằm trọn trên hai đùi người bạn cũ. Chiếc mũi nứt nẻ của tôi lọt thỏm giữa hai lớp vải thô, áp sát vào mu bàn tay chai sạn của anh. Bàn tay người thợ gạch xoa nhẹ lên đỉnh đầu tôi, luồn vào kẽ lông xơ xác bạc màu. Cái vuốt ve chậm rãi của anh truyền sang thân hình tôi luồng nhiệt lượng ấm sực, làm mềm đi những thớ thịt đã teo quắt sau bao mùa đông gió bấc.

Khoảng trời trước mắt tôi vẫn là màn sương xám tro mờ đục. Đôi mắt mù lòa không còn thấy được ráng chiều xóm thợ, nhưng da thịt tôi thì biết rất rõ. Trên sống mũi, chỏm tai rách và dọc theo sống lưng còng gập nhô từng đốt xương sườn, hơi ấm vệt nắng chiều muộn đang lan tỏa.

Đó là thứ ánh sáng quen thuộc của cả một đời chó. Không gay gắt như nắng hè nung bỏng xỉ than, cũng không buốt lạnh như trăng suông hắt qua khe tôn dột ngày mẹ bỏ đi. Vệt nắng này ấm mềm, ngọt ngào như tấm chăn mỏng phủ lên thân xác rệu rã của kẻ giữ thềm. Tôi cảm nhận vệt sáng ấy đang thu hẹp dần từng tấc trên nền xi măng.

Mười lăm năm trước, cũng trên bậc thềm nứt nẻ này, tôi chạm chân xuống lần đầu tiên. Khi ấy, tôi chỉ là cục lông vàng hung bé tẹo, lẫm chẫm bấu trượt trên lớp rêu xanh sau khi được anh chuyền tay từ sọt tre chợ huyện về giấu trong vạt áo. Ngày ấy, vệt nắng chiều trải dài từ chân cổng sắt rỉ vào tận chân cột hiên, vàng rực như mật ong mới rót. Tôi ngơ ngác đuổi theo chiếc lá bàng khô rồi ngã chúi mũi vào chiếc dép tổ ong rách bươm của bố.

Mùi cao su mục nát thoảng qua trong tâm thức tôi rõ rệt lạ kỳ. Chiếc dép bám bùn đất bến bãi, sứt mũi, từng là món đồ chơi tuyệt nhất đời tôi. Tôi từng dùng răng sữa cắn ngập các lỗ tròn cao su, lắc lắc đầu nhỏ gầm gừ giả vờ hung dữ. Tôi nhớ tiếng cười giòn tan của bạn nhỏ khi thấy tôi mắc quai dép ngã lăn quay. Rồi tiếng quát cộc cằn của bố khi bước qua bậu cửa, kèm mẩu xương ống luộc nhạt cạo sạch tủy hất nhẹ vào góc thềm.

Anh dịch người, kéo vạt áo bông che thêm phần hông sau cho tôi. Khớp xương hông thoái hóa sưng to mấy hôm trước còn buốt nhói, giờ trở nên êm ru, tan vào hơi nóng từ lồng ngực người đang ôm tôi.

Cạnh mép đùi anh, chiếc hộp bánh quy Hải Châu bằng sắt tây nằm nghiêng trên đất, nắp đã mở toang. Mùi rỉ đồng và mùi giấy bóng kính cũ xộc vào mũi tôi: ba viên bi ve xanh ngắt, nắp chai nước ngọt dập dẹp, mẩu xương nhựa mòn vẹt, và chiếc răng sữa trắng ngà của tôi rơi ra từ năm đầu tiên. Tôi đã dùng thân xác gầy trơ xương đè lên lớp đất ẩm suốt mười lăm năm để giữ trọn điểm hẹn cho người đi xa. Giờ đây, chiếc răng sữa nhỏ xíu ấy đã được anh cẩn thận nhặt lên, áp vào môi, rồi lại đặt nằm trong đáy hộp thiếc cạnh tôi. Sứ mệnh giữ thềm đã hoàn thành trọn vẹn.

Vệt nắng trên thềm xi măng lại lùi thêm một gang tay.

Ranh giới ấm áp trượt dần từ ngực tôi xuống thắt lưng, rồi trôi về phía hai chân sau teo tóp. Nhưng tôi không hề thấy buốt giá. Hơi ấm của bạn nhỏ đang cuộn chặt lấy tôi, tạo thành chiếc kén bình yên tuyệt đối.

Một luồng ký ức khác lại ùa về, tràn ngập ánh sáng ven sông. Mùa hè năm tôi tròn một tuổi, cỏ may bạt ngàn xanh biếc. Bạn nhỏ mặc quần đùi thủng đít, tay cầm vợt tự chế đuổi cào cào. Hai đứa ngồi dưới gốc đa bến than, chia nhau que kem mút đậu xanh năm trăm đồng. Vị ngọt mát tan chảy trên đầu lưỡi ráp hòa cùng mồ hôi mặn mòi trên ngón tay bạn, như bữa tiệc thịnh soạn nhất trần đời. Giờ đây, hạt cơm dẻo chấm muối vừng anh vừa bón lúc chiều tà vẫn còn vương nơi kẽ hàm rụng sạch răng, ấm sực và nhẹ nhõm.

Ngón tay anh âu yếm xoa quanh hốc mắt mù lòa của tôi, gạt đi lớp ghèn khô. Vết sẹo ở chỏm đuôi sau đêm mưa dột năm nào lại rung lên. Chiếc đuôi cỗi cằn ấy vừa cố gõ nhẹ hai nhịp vào ống quần bạc màu của anh đón chào người tri kỷ.

Anh tựa đầu vào cột gạch mộc, thì thầm nghẹn ngào:

“Mày nhớ ngày xưa không Mi… Tao bảo lớn lên làm thợ xây kiếm nhiều tiền mua cho mày tảng thịt lợn luộc to… Thế mà chẳng mua được miếng nào ra hồn…”

Nước mắt ấm nóng của anh rơi xuống sống mũi tôi. Tôi vươn lưỡi ráp liếm nhẹ mu bàn tay anh. Tôi không cần thịt lợn luộc. Nửa nắm cơm nát anh bón chiều nay đã là thứ quý giá nhất. Anh đã trở về, đã ôm tôi vào lòng bằng chính hơi ấm da thịt ngày thơ bé. Mười lăm năm đợi chờ bên thềm hoang tàn này hoàn toàn xứng đáng.

Gió chiều làm rơi vài bông hoa dâm bụt đỏ thẫm trước cổng. Tiếng đời lùi xa, chỉ còn tiếng đập trầm hùng từ trái tim anh: thình thịch… thình thịch… ru tôi trôi vào miền êm dịu.

Vệt nắng chiều muộn trên bậc thềm chỉ còn một dải hẹp bằng hai bàn tay, đọng lại ở mép ngoài cùng rồi từ từ trượt đi.

Trong tâm thức tôi bừng sáng rực rỡ. Khoảng sân gạch hiện lên với nắng sớm vàng ươm. Cậu bé mặc quần thủng đít giơ cao chiếc dép tổ ong rách cất tiếng gọi: “Mi ơi! Ra đây với tao nào!”. Một chú cún con lông vàng hung ngoáy tít đuôi phóng như bay qua bậc thềm, bốn chân non nớt chạy thoăn thoắt trên nền đất ấm về phía ban mai, không còn đau nhức, không còn màng vôi che mắt, không còn gánh nặng năm tháng.

Lồng ngực gầy guộc của tôi thở ra một hơi dài thật chậm. Hơi thở mỏng manh như sợi khói thoát ra qua kẽ mũi nứt nẻ, gửi lại toàn bộ nhọc nhằn cho đất trời. Thân hình tôi nhẹ bẫng trong vòng tay người thợ gạch.

Bàn tay thô ráp của anh siết nhẹ thân xác nhỏ bé vào vòm ngực. Bờ môi anh áp chặt lên vầng trán bạc phếch của tôi, thì thầm: “Mi ngoan của tao…”

Vệt nắng cuối cùng lịm tắt vào bóng chiều nhập nhoạng. Khoảng tối bao dung trùm xuống khoảng sân hoang phế. Kẻ gác thềm trung trinh khẽ nép sâu hơn vào lòng bạn nhỏ, thanh thản đón nhận giấc ngủ dài ngàn thu bên thềm cũ, trọn vẹn một kiếp yêu thương không một vết gợn nuối tiếc.